Thứ Năm, 24 tháng 8, 2023

" CÁI BẰNG TIẾN SĨ "


"CÁI BẰNG TIẾN SĨ"

Nguyễn Liệu
Năm 1976, chấm dứt chiến tranh, bác sĩ Tôn thất Tùng, một bác sĩ giỏi, học tại Pháp, kẹt trong kháng chiến, rồi phải phục vụ cho Việt cộng, đã mạnh dạn viết bài báo đề nghị bác sĩ Việt cộng được đào tạo trong chiến tranh, phải thi và học lại. Nếu không học lại hoặc học mà thi không đậu, thì không cho hành nghề vì không đủ tiêu chuẩn của một bác sĩ. Tôn thất Tùng, một đảng viên cộng sản, cũng phải đợi gần 80 tuổi mới liều mạng nói một sự thật mà đã cắn răng chịu đựng gần hết cuộc đời. Bởi vì chính ông đã chứng kiến đã đào tạo những đảng viên trung kiên, dốt nát trong 6 tháng trở thành bác sĩ y khoa, đáng lẽ phải đào tạo từ 6 năm đến 15 năm sau khi tốt nghiệp trung học.
Dốt nhất, nghèo nhất, ít suy nghĩ nhất, ngu nhất, là những yếu tố căn bản của đảng viên trung kiên cộng sản. Mac và Engels quan niệm, con người ngu nhất, nghèo nhất là con người trung thành nhất. Giai cấp bần cố nông, công nhân thấp nhất, là giai cấp tiên phong của đảng cộng sản, ngoài ra là những giai cấp phản động, muốn dùng chúng phải cải tạo chúng theo giai cấp tiên phong.

Từ ngày có đảng cộng sản Việt Nam, người có học bị xem là kẻ thiếu trung thành, kẻ phản bội, cho nên lãnh tụ Mao trạch Đông quá mặc cảm dốt nát đã nói thẳng thừng “Trí thức không bằng cục phân”. Câu nói đó trở thành một nguyên lý cho đám cán bộ lãnh đạo cộng sản. Câu nói của Mao trạch Đông đó làm cho người lãnh đạo cộng sản tự tin rằng mình có giá trị, có bản lĩnh, có đạo đức cách mạng vô sản, vì mình không phải là trí thức, tức mình hơn cục phân. Nhiều lần tôi đã nói, nếu Hồ chí Minh là một trí thức như cụ Phan châu Trinh, như Nguyễn thế Truyền,…thì không bao giờ được làm bí thư của đảng cộng sản Đông dương. Thiếu bằng cấp, dốt nát, là một lợi khí tốt để cho Hồ chí Minh bước lên nấc thang lãnh đạo đảng cộng sản.

Tôi, người viết bài này, đã chứng kiến trước mặt, cái cảnh thê thảm của người lỡ có bằng cấp, muốn được đảng tin không biết làm sao xóa bỏ cái lỡ hiểu biết của mình. Cố nhiên họ một mặt không dám đọc sách, nhất là sách ngoại ngữ, vì giai cấp bần cố nông, bọn ăn mày ăn xin ngoài chợ, không làm chuyện đó. Hình thức thì có phần dễ, họ ăn mặc rách rưới, để thân thể cho dơ dáy, ngồi cạnh họ phải có mùi hôi của dân lao động chân chấm tay bùn. Ngôn ngữ rất khó, họ sợ hai chữ lãng mạn của lớp tiểu tư sản. Ví dụ họ không dám nói “trăng đẹp, hoa hồng đẹp, Tây Thi đẹp …” mà thường nói cho nhiều người nghe "đống rơm của bác đẹp quá, các luống cày đẹp quá, hố ủ phân tuyệt đẹp. Bác (Hồ chí Minh) cầm cây cuốc đẹp quá, chú Đồng nhỗ cỏ đẹp quá…chị nuôi bản lĩnh quá, đẹp quá, chị du kích đứng gác đẹp quá v.v…" Bởi vậy Chế Lan Viên mới viết “Một lỗ hầm chông đẹp hơn vạn đoá hoa hồng”, Tế Hanh viết “Năm nay anh trồng cây bưởi góc nhà”. Tôi chắc chắn trên 100% những người có học, không cần nhiều, cỡ lớp đệ tứ niên ngày xưa trở lên, nếu kẹt trong chế độ cộng sản từ 1945 đến 1975 đều ít nhiều phải đóng kịch như thế. Các thầy Hoàng Tuỵ, Lê trí Viễn, Nguyễn thiện Tụng, Phan Thao (con cụ Phan Khôi) Trần tế Hanh…đã qua thời kỳ cố lột xác như thế. Nếu không lột xác thì không được vào đảng.

Sau năm 1975, hết chiến tranh, cộng sản về thành, nhất là thành phố Sài gòn. Đám cán bộ trung cấp và cao cấp từ Bắc vào, từ núi xuống, từ bưng biền ra, chới với trước nép sống có văn hóa của người dân miền Nam, chế độ cũ. Sự ngớ ngẩn dốt nát lố bịch của đám cán bộ đó đã làm cho dân chúng miền Nam khinh khi, và đã có nhiều chuyện tiếu lâm ngày nay vẫn còn truyền.

Từ chỗ học tập làm cho giống lớp bần cố nông để vào đảng, nay cũng những cán bộ đó học tập làm cho giống lớp tiểu tư sản, lớp có tiền, lớp trí thức.
Bắt chước cách ăn mặc của lớp tiểu tư sản thì dễ, chỉ cần trước hết, liệng ném cái nón cối, bỏ hẳn đôi dép đế xe hơi gọi là đôi dép bác Hồ (đế xe hơi làm đôi dép nguyên là của cu li kéo xe, người đổ thùng cầu tiêu,… họ quá nghèo, không có tiền mua đôi giày, nên lượm đế xe hơi bỏ làm giầy, và những người này là trung kiên của đảng cộng sản, là cán bộ lãnh đạo đảng cộng sản sau đó. Cụ Hồ bắt chước họ, cho giống họ, nên dùng đôi dép đó chứ Hồ chí Minh không sáng chế ra đôi dép đó, thế mà gọi là dép bác Hồ bác cũng nhận bừa, không cần đính chính, đó cũng là tính chất của…).

Họ, cán bộ cộng sản, xa lánh ngay lớp bần cố nông nghèo đói. Ngày trước cán bộ cộng sản nếu kể lai lịch cha mẹ ông bà có người đói, người làm mướn, người ăn xin ăn mày, thậm chí có người chết đói, thì họ rất hãnh diện vì họ thuộc thành phần tốt nhất, vô sản nhất, lành mạnh nhất, trung kiên nhất. Ngày đó nếu cán bộ nào có cha mẹ, bà con, ông bà, là người khoa bảng, làm quan, thì xem như kẻ phản bội. Bởi vậy dù cố gắng tới mức nào, Phạm Tuyên con quan thượng thư Phạm Quỳnh, Bùi Tín con cụ thượng thư Bùi bằng Đoàn, Hoàng Tụy con cháu tướng Hoàng Diệu, nhiều lắm là làm nhạc sĩ, làm báo, làm giáo sư khoa học, không bao giờ được vào hàng ngũ cán trung kiên của đảng.

Từ ngày họ bắt chước người tiểu tư sản người trí thức thì họ cố tập cho ra lớp người này. Về ăn mặc, nói năng, kiểu cách ăn chơi, tiêu tiền, lễ nghi v.v... dù sao cũng dễ bắt chước nhất là bắt chước sự ăn chơi sa đọa thì rất dễ. Nhưng bắt chước có trình độ hiểu biết thì thật là khó, gần như vô vọng. Để khắc phục sự khó khăn đó, đảng chủ trương cho học tại chức, học không cần đến trường, học không cần đọc sách, học không cần làm bài, và một năm có thể ghi danh vài ba lớp. Phải cần 12 năm để học hết trung học, đảng cho học hai năm hết trung học. Bằng cử nhân bằng tiến sĩ cũng vậy cũng học tại chức.

Phe chiến thắng mà bị dân chúng chê dốt, đó là điều đau khổ nhất của Việt cộng. Đó là lý do bằng tiến sĩ mọc lên như nấm. Thêm vào đó, phong trào thi đua tham nhũng phát triển mạnh. ‘Ngành ngành tham nhũng, người người tham nhũng’, thì bằng cấp không cần ghi danh chờ thời gian nữa, mà có ngay, nếu có số tiền qui định.

Cán bộ cộng sản, nhà cửa có rồi, xe cộ có rồi, tỳ thiếp có rồi, bỏ nón cối, bỏ áo lãnh tụ, bỏ đôi dép Bác Hồ, ăn mặc kiểu tân tiến, kiểu Mỹ, tiệc tùng, uống rượu, cà phê, uống trà, nhảy đầm, theo kiểu bọn quí phái phong kiến ngày xưa….Nhưng còn thiếu trình độ học vấn để nông dân, dân lao động không khinh bỉ “dốt mà làm sang” nên phải có mảnh bằng. Đã mua thì chịu tốn mua thứ cao nhất tốt nhất, và do đó bằng tiến sĩ đảng bán đắt như tôm tươi.

Một đề nghị thực tế.
Tôi hoàn toàn đồng ý với đảng cộng sản ồ ạt sản xuất bằng cấp để đánh tan thành kiến “cộng sản là bần cố nông”. Trước năm 1954, dân chúng ở Quảng ngãi có ý khinh thường đám cán bộ đảng thường nói “bọn BCN, tức bọn bần cố nông”. Không riêng gì ở Việt nam ở Cuba, Bắc Hàn ngày nay tiến sĩ bác sĩ đầy đường đầy sá, không làm gì cho hết. Bởi vì học rút ngắn thời gian, hạ thấp chương trình, và ưu tiên cho đảng viên không có thì giờ đi học và không biết chữ, hoặc biết sơ sơ, nhưng cần có bằng tiến sĩ. Để khỏi gây tác hại cho dân chúng, tôi đề nghị, đảng không nên khuyến khích đảng viên cán bộ đảng nhận bằng tiến sĩ về y học, khoa học. Vì hai loại này có thể đưa đến chỗ giết người vì không thực học.

Tôi còn nhớ rất rõ năm 1984, ra khỏi tù tôi về Saigon. Con tôi bị sốt tôi nghi là sốt xuất huyết tôi đem vào bịnh viện nhi đồng. Theo lời khuyên chân thành và khẩn cấp của dân chúng, tôi thức trắng đêm bên giường bịnh, để canh chừng bác sĩ. Lúc đó bịnh viện Sài gòn có hai loại bác sĩ, một loại của chế độ cũ còn lại, một loại tập kết mới về, loại bác sĩ Tùng đã cảnh báo cho dân chúng biết. Tôi canh chừng nếu bác sĩ tập kết về khám bịnh hoặc chích thuốc cho con tôi, thì lập tức tôi cản không cho, và tôi cũng canh chừng nếu đứa nhỏ không sống được tôi phải bảo vệ xác chết của nó cho được toàn vẹn, đó là lời khuyên của đồng bào miền Nam.

Cấp bằng tiến sĩ không gây tác hại cho dân chúng, nên chọn những loại như văn chương nghệ thuật, phong tục, v..v… càng viễn vông càng mơ hồ càng tốt. Tôi rất phục TÔ HUY RỨA, TIẾN SĨ DỐT NHẤT Ở VIỆT NAM biết thân phận mình nên không chọn tiến sĩ y khoa hay tiến sĩ cầu cống, cũng không chọn tiến sĩ kinh tế, tiến sĩ luật, tiến sĩ giáo dục … vì những thứ này dễ lòi đuôi chuột khi đụng đến thực tế. Ông chọn tiến sĩ “xây dựng đảng”, không làm hại người nào.

Đảng nên xem bằng tiến sĩ như phẩm hàm cửu phẩm bát phẩm ngày xưa triều đình cho các viên chức đúng tiêu chuẩn. Những chức này không làm hại người nào, chỉ để gọi danh xưng mà thôi. Người ta thường gọi tiến sĩ về ngành gì ví dụ ông Nguyễn văn A tiến sĩ kinh tế, ông Nguyễn văn B tiến sĩ toán học v..v….

Những tiến sĩ này vô hại nên phát cho đảng viên:
• Tiến sĩ văn chương thơ Bác,
• Tiến sĩ ca dao kháng chiến,
• Tiến sĩ mưa phùn gió Bấc,
• Tiến sĩ cá thài bai,
• Tiến sĩ buổi chiều vàng,
• Tiến sĩ đồng lúa chín…..
• Tiến sĩ hài
• Tiến sĩ nấu ăn
• Tiến sĩ thâm niên đảng

Tôi ví dụ như vậy để các ông tiến sĩ không làm cho dân chúng lo lắng. Bởi vậy khi tôi nghe đảng ra quyết tâm phấn đấu trong 10 năm nữa sẽ đào tạo 20 ngàn tiến sĩ, tôi tin tưởng việc này đảng làm được và làm hơn có thể đưa lên gấp 10 tức 200 ngàn tiến sĩ.
Nguyễn Liệu

Thứ Hai, 21 tháng 8, 2023

 


QUÊ MẸ THƯƠNG NHỚ

Quê tôi Đó bên sông Chiều trở LẠNH
Gió đông Về, rét buốt MẢNH thân CÔI
Chiều chợt Buồn khi còn Mãi xa XÔI
Hình bóng Mẹ giờ đây TÔI hồi TƯỞNG

Ra đi Lúc, gió còn, đang chuyển HƯỚNG
Lòng thẩn Thờ mãi miết VƯỚNG gót CHÂN
Từng bước Đi xiêu vẹo Bước lại GẦN
Tâm trạng đó, xóa mờ, DẦN tâm KHẢM

Mẹ tôi Đó tháng ngày Đơn chiếc LẮM
Bếp lửa Chiều vương khói XÁM thôn CAO
Canh ruột Bầu râu tôm Mắm ruốc CHAO
Sống đạm Bạc, qua ngày BAO gian KHÓ

Để dành Dụm thăm nuôi Con lao KHỔ
Ngày trở Về cao nguyên PHỐ mù SƯƠNG
Tin Mẹ Hiền từ biệt Quá đau THƯƠNG
Chân vẫn Bước nghiên xiêu NƯƠNG liếp CHẮN

Nhà mở Cửa sao bốn Bề im VẮNG
Nhà tôi Đây giờ đã VẮNG bóng NGƯỜI
Tấm liếp Thưa ngăn cản Gió, che NGƯỜI
Con chó Mực nhìn chăm NGƯỜI, chủ CŨ

Mẹ tôi Đó.! nằm im Lìm như NGŨ
Trên mắt Còn, giọt lệ CŨ nhớ THƯƠNG
Lời ru Con qua năm Tháng vấn VƯƠNG
Trong ký ức, niềm tiếc THƯƠNG mãi NHỚ

Quê hương Mẹ! nỗi buồn Đau lìa BỎ…
Mãnh đất Nghèo đã che CHỞ chúng TA
Biết bao Điều khi nhung Nhớ lìa XA
Sống xứ Lạ nổi lòng TA trống VẮNG

Nhớ về Mẹ với tình Yêu lai LÁNG
Sữa Mẹ Hiền những ngày THÁNG nuôi CON
Ngày ra Đi lòng tíếc Nuối cô ĐƠN
Thương nhớ Mẹ vọng đầu NON nguồn SUỐI

Nhớ hình Ảnh buổi quây Quần cơm TỐI
Bếp lửa Hồng đùa gió THỔI nhá NHEM
Gia đình Ơi! nơi nuôi Lớn tôi THÊM
Mẹ vẫn Mãi, tạo con THÊM sức MẠNH

Lời Mẹ Dạy luôn bên Con sát CÁNH
Giúp cho Con trong hoàn CẢNH xa NHÀ
Nơi quê Người vùng đất Khách đường XA
Sống xứ Lạ.! suốt đời TA nhớ mãi...

- Bầy Chim tan tác lìa Tổ

Chủ Nhật, 20 tháng 8, 2023

SÔNG DAKBLA

 


SÔNG DAKBLA

Sông Dakbla tại tỉnh Kontum chảy theo hướng Đông Tây, ngược lại so với những con sông khác, nên người dân địa phương thường gọi dòng sông chảy ngươc. Dakbla không chỉ tạo cho dòng sông này nét riêng độc đáo mà còn trở thành biểu tượng của tỉnh Kontum. Chính vì đặc điểm này nên sông Đakbla được mang danh là “dòng sông chảy ngược”, (nước sông ngược dòng từ đông sang tây)

con đường chạy dọc bờ sông
"bờ kè" tên gọi nghe rằng lạ tai.!
Dakbla nước chảy rẽ hai
chảy vòng lên núi rồi ra hạ nguồn

Tất cả dòng sông ở cao nguyên trung phần đều có đầu nguồn từ hướng Tây chảy xuôi về biển Đông.

Riêng dòng sông Dakbla dài 139 km thì ngược lại chảy theo hướng Đông sang Tây kéo dài hơn 100 km từ thượng nguồn Polei Breng thuộc huyện Konplong phía Tây tỉnh Kon Tum, chảy về thành phố Kon Tum rồi lượn lờ sang hướng Tây Nam hợp với dòng sông Pô Kô, từ chân núi Ngọc Linh ở quận Tumorong, chảy quanh co ngang qua quận Dakto, Tỉnh lộ 512 (cầu Dakmot), chảy dọc theo làng Thượng Daktri, làng Dinh Điền Tri Lễ. Sau đó lượn một vòng cung xa xa về phía sau phi trường Phượng Hoàng, tiếp tục xuôi hướng Nam rồi hòa với dòng sông Dakpsi để gặp dòng sông Dakbla tỉnh Kontum, xuôi theo hướng Tây chảy qua các tỉnh Kontum, Pleiku, nhập vào thác Yaly hùng vỹ đổ ra sông Sesan.

Trong hành trình của mình, dòng Sesan lại chảy sang tận xứ sở Angkor Cambodia nhập vào dòng Serepok trước khi hòa mình cùng dòng Mekong để trở ra biển Đông.

Dòng sông từ thượng nguồn có địa thế phức tạp với nhiều đoạn uốn khúc, lòng sông lại rộng nên đến mùa mưa lũ với lượng nước từ trên cao đổ xuống quá nhiều đã tạo nên dòng nước hung hãn, sẵn sàng cuốn phăng những gì nó gặp trên đường… Có lẽ bắt nguồn từ thực tế đó mà từ xa xưa người Bahnar đã gọi dòng sông này là Đakrong Plah dòng sông nước lớn. Trong tiếng Bahnar, "Dak" là nguồn nước, "Plah" là hung bạo, dữ tợn.

Vấn đề qua lại, lên xuống, xuôi ngược trên dòng sông Dakbla... từ bao đời người Bahnar đã khéo tay tạo nên chiếc thuyền độc mộc có hình dáng thon dài, gắn bó với họ trong cuộc sống. Với đặc điểm nhỏ gọn và cấu tạo đơn giản, có sức nâng cao, ít lực cản của nước lại rất năng động, thuyền độc mộc rất hữu dụng trong việc giúp người Bahnar vận chuyển những nông sản lúa, bắp từ nương rẫy, cũng như măng, củi, gỗ… trong rừng về buôn làng, ngoài ra còn làm phương tiện thả lưới bắt cá trong những ngày nhàn nhã.

Đặc biệt thuyền độc mộc còn là không gian trữ tình của những tiếng hú điệu hò khi các chàng trai Bahnar cất lên gởi vào gió núi để nhờ dẫn đường các cô gái Bahnar tìm đến "bắt chồng".!

Thuyền độc mộc làng Konktu, đúng như tên gọi, “độc mộc” là loại thuyền được khoét nguyên từ một thân cây lớn, thường là cây Sao với đặc điểm nhẹ nhưng chắc chắn, ít bị mối mọt. Thuyền độc mộc có chiều dài chừng 5m và chiều rộng chỉ khoảng 0,5m, dùng làm phương tiện vận chuyển và đánh bắt cá của dân làng Bahnar.

Rừng dốc cao:
Đèo Sao mai rừng dốc
Đến số sáu Hoà bình
Dòng Dabla lặng lẽ
Phố núi thật là xinh
Gọi thu về:
Cây xanh màu, trắng phủ
Qua bãi mía nương ngô
Lời nguyền mùa nước lũ
Sông chảy ngược về mô?

Kể lại cho đời sau:
Cho đời sau thấy lại
Bóng Phượng vĩ chung đôi
Chuyện tình in dáng núi
Tím trọn buổi hoàng hôn.

Nhà rông mái cong vút
Em gùi nước về buôn
Say trong tiếng ca hát
Bập bùng điệu T’rưng

Cao nguyên làn gió bụi
Bông dại nở khắp rừng
Hương bay theo gió núi
Cà phê hạt đỏ hồng

Dakbla chiều vạt nắng
Thuyền độc mộc qua sông
Dòng Dakbla hờ hững
Xuôi ngược nước mênh mông.