Kể từ 03g00 sáng ngày 10/3/1975, các lực lượng CSBV đã pháo kích 400 quả đạn đủ loại vào khu vực tỉnh lỵ Ban Mê Thuột, đồng thời chúng cũng đã tấn công phi trường dành cho phi cơ L19 tại tỉnh lỵ, Chi Khu Ban Mê Thuột ở kế cận, kho đạn tại 5cs Tây Ban Mê Thuột và ĐPQ ở gần đấy cùng phi trường Phụng Dực tại 7cs Đông tỉnh lỵ Ban Mê Thuột. Hiện khu vực phía Nam thị xã đang bị Cộng quân bao vây. Một số chiến xa của địch cũng đã được ghi nhận.
Tiếp đến chặng đầu tiên trên Liên Tỉnh Lộ 7. Con đường chôn vùi nhiều ngàn xác đồng bào và trẻ thơ vô tội. Và cũng chính là con đường đưa đến sự sụp đổ mau chóng của Quân Lực VNCH, để rồi, mất nước sau đó.!
SAU NGÀY 30-4-1975
NGƯỜI DÂN CẢ NƯỚC PHẢI ĂN ĐỘN.
Tình hình kinh tế VNCH vào cuối tháng 3, đầu tháng 4 năm 1975 bị xáo trộn nghiêm trọng vì chiến sự.
Tính đến 8-04-1975, VNCH đã mất toàn bộ Quân khu I, II và một phần Quân khu III, chỉ còn kiểm soát vùng bắc Sài Gòn và Quân khu IV, tức đồng bằng Mekong.
Chính quyền của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đột nhiên phải đón hàng triệu người tị nạn bỏ chạy về phía Nam sau khi Huế, Đà Nẵng và các tỉnh Cao nguyên và vùng duyên hải rơi vào tay lực lượng Cộng Sản miền Bắc.
Chỉ con số người tị nạn đã ghi tên vào các trại cứu trợ thuộc Quân khu III và IV, ở Bình Dương, Biên Hòa, Bình Tuy, Phước Tuy, Sài Gòn, Tây Ninh, Vũng Tàu, Châu Đốc, Kiên Giang, Kiến Tường, Phú Quốc, Vĩnh Bình và Vĩnh Long, là 356.000 người.
Bên cạnh đó có hàng trăm nghìn người bị mất nhà cửa trong hai vùng chiến thuật 3 và 4 do các cuộc tấn công của CS/BV.
Nhưng kinh tế của phần còn lại mà VNCH kiểm soát vẫn khá vững, ít ra là còn thực phẩm, theo một báo cáo của CIA "The Economic Situation in South Vietnam - March 1975" được giải mật tháng 1 năm 2005.
Tất nhiên, có những bất ổn về tiền tệ: giá vàng và đô la Mỹ tăng mạnh vì lo ngại phải di tản, và Sài Gòn đã mất toàn bộ khu vực kinh tế Cao nguyên, nguồn xuất cảng gỗ, lâm sản và các tỉnh miền Trung, nhưng vụ mùa 1974-75 có thu hoạch cao, và VNCH dư gạo để cung cấp cho quân đội và dân chúng, kể cả người tị nạn CS.
"Sài Gòn vẫn kiểm soát vựa lúa ở đồng bằng sông Mekong, cung cấp gạo cho dân còn do VNCH kiểm soát, gồm cả người tị nạn. Vụ mùa 1974-75 lại bội thu, và các thuyền chở lúa gạo, rau trái tiếp tục cập vào Sài Gòn, không hề bị phe cộng sản ngăn cản. Ngành đánh cá của Nam Việt Nam cung ứng cho Sài Gòn và để xuất cảng, cũng còn nguyên vẹn."
Dù nguồn rau xanh đã mất vì Đà Lạt bị Việt Cộng chiếm, nhưng thịt và cá từ miền Tây vẫn cung cấp đều cho Sài Gòn và các đô thị khác.
Tuy nhiên, phúc trình này đã cảnh báo rằng "nếu phe cộng sản chặn bắt các chuyến vận tải vào Sài Gòn, hoặc chính phủ phải rút quân để bảo vệ thủ đô, thì tình hình có thể không còn tốt như thế".
SAU NGÀY 30-04-1975.
Bức tranh kinh tế của nước Việt Nam do Việt Cộng miền Bắc thống nhất, một hai năm sau khi chiến sự kết thúc lại hoàn toàn ảm đạm và khác hẳn: cả hai miền thiếu lương thực trầm trọng.
Một phúc trình khác của CIA vào tháng 10 năm 1978 nói có ba lý do cho việc thiếu gạo này.
1. Viện trợ, gồm cả gạo của Bắc Kinh cho Hà Nội, để bù vào con số thiếu kinh niên là 800 nghìn tới 1 triệu tấn/năm, bị giảm từ 1974 và cắt hẳn năm 1978.
2. Thu hoạch lúa của cả hai miền Nam và Bắc đều giảm, vì lý do khách quan, như thiên tai (lụt to ở đồng bằng sông Cửu Long), và sâu bệnh.
3. Các chính sách sai lầm nghiêm trọng của nhà nước CS với nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Nếu lấy năm 1974, khi hai miền ở hai chế độ khác nhau, so sánh về mặt lương thực của miền Bắc (VNDCCH cũ) là không thay đổi, tức là luôn thiếu thốn, trái ngược hẳn với VNCH.
Sản lượng lương thực, trong đó phần lớn là lúa gạo (chừng 5 triệu tấn/năm), cũng đã luôn thấp hơn miền Nam (VNCH), và trong suốt một thập niên chiến tranh, Hà Nội phải nhập, hoặc nhận viện trợ gạo, lúa mì từ các nước đồng minh XHCN.
Sau ngày 30-04-1975, Tướng Trần Văn Trà nắm chức Chủ tịch Ủy ban Quân quản Sài Gòn - Gia Định của chính phủ Cách mạng Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Hai thành phần VNDCCH và Mặt Trận GPMN thống nhất chính thức vào tháng 7 - 1976.
Vựa lúa VNCH trong khi đó vào năm 1974 đã đạt được 7,1 triệu tấn, một con số kỷ lục.
Ngoài diện tích canh tác lớn hơn miền Bắc, còn có ba lý do để lúa ở miền Nam đạt năng suất tốt: dùng giống thu hoạch cao, phân hóa học, và có máy móc hiện đại hơn.
- Như thế, sản lượng lúa năm 1974 của cả nước là 12,1 triệu tấn (7,1 của miền Nam, 5 triệu của miền Bắc).
- Sau 30-04-1975, sản xuất lúa gạo bắt đầu tụt dốc ở miền Nam.
Giới trẻ với niềm vui ngày 2/09/1976 trên đường phố Sài Gòn đã được đổi tên thành Thành phố HCM
- Việc cắt đứt quan hệ với các nước Phương Tây và tư bản châu Á khiến nguồn phân hóa học không còn, và ngay lập tức năng suất lúa gạo bị giảm.
- Xáo trộn về thị trường vì quản lý kém, khiến sự cung cấp lúa gạo cho đô thị bị ngưng trệ, với chừng 160.000 người Hoa ở Chợ Lớn tìm cách ra đi.
- Việc ngăn sông cấm chợ và lời đe dọa tịch thu ruộng đất, trang trại, vườn rau, do chính quyền mới đưa ra khiến nông dân mất hứng thú sản xuất.
- Chính sách "Kinh tế mới" đem chừng 1,5 triệu người vào các vùng xa đô thị để khai phá, nhằm tăng đất canh tác, có đem lại kết quả về con số.
- Chừng 400.000 hectare đất nông nghiệp được khai phá, nhưng sản xuất không tiến được vì người ta bỏ trốn về thành phố, vì thiếu thiết bị sản xuất, và phân bón.
- Tinh thần làm việc cũng không cao, vì khu kinh tế mới, như lời một nhà báo nước ngoài đến thăm, "không khác gì trại tù Siberia".
- Trận lụt năm 1978 cũng khiến nền kinh tế thêm điêu đứng, sâu rầy cũng phá hoại hoa màu, nhưng yếu tố con người vẫn là chính.
- Năm 1977, cả nước chỉ thu hoạch có 11,2 triệu tấn lúa, thấp hơn kế hoạch nhà nước đề ra 1,8 triệu tấn, và kém chỉ tiêu năm 1976 chừng 800 nghìn tấn.
- Đó là chưa kể miền Bắc vẫn tiếp tục cần tới 1 triệu tấn gạo từ viện trợ bên ngoài mà nay không còn.
Vì thế, không lạ là từ sau 1975, nhà nước tung ra phong trào ăn độn, với bo bo, khoai mì (sắn), và khoai tây được trồng khắp nơi bù vào cơm ăn hàng ngày.
Trong việc này, Việt Nam có thành tích đáng kể, theo báo cáo của CIA.
- "Các loại ngũ cốc như củ mì, bắp và khoai tây đã tăng từ 900.000 tấn năm 1975, lên 1,2 triệu tấn năm 1976 và 1,8 triệu vào năm 1977."
- Một tình trạng gia tăng khác là vào hai năm 1976 và 1977, số gia súc, nhất là heo, bị nông dân giết mổ nhiều hơn...vì không muốn bị nhà nước tịch thu.
- Hậu quả của việc này là sau đó, đàn gia súc miền Nam không phục hồi được, giống như tình hình chung của nền nông nghiệp.
- Căng thẳng với Campuchia khiến chương trình Kinh tế mới và việc khai thác nông nghiệp các vùng xa đô thị bị ngưng trệ, rồi chết hẳn.
- "Các đơn vị quân đội vốn thường được điều động làm phần đầu của công tác xây dựng khu Kinh tế mới như phá rừng, tạo mặt bằng, xây mương cống, nhưng nay phải chuyển ra biên giới, đối mặt chiến tranh với kẻ địch. Những vụ chạm súng sau đó đã phá nhiều khu kinh tế mới ở Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang và Kiên Giang, buộc chính quyền phải giảm bớt chương trình đưa người vào các vùng thưa dân giáp biên với Campuchia..."
- Mô hình kinh tế "XHCN" từ miền Bắc được áp dụng cho cả nước sau 1975. Sau thu hoạch nông dân đóng thuế bằng cách nộp lúa và hoa màu cho hợp tác xã.
- Chỉ tiêu "tự lực về lương thực" cả nước cho năm 1980 đã hoàn toàn tuột khỏi tầm tay của nhà nước.
- Khi các vấn đề của nông nghiệp chưa có hướng giải quyết thì bộ máy cầm quyền CS, đã bắt đầu chuyển tầm ngắm vào các khu vực khác của nền kinh tế.
- Đó là "cải tạo công thương nghiệp" ở đô thị từ tháng 3 năm 1978, áp dụng chế độ tem phiếu ngay cả ở TPHCM và thử nghiệm "hợp tác hóa" ở nông thôn.
- Chỉ trong vòng mấy năm sau ngày 30-4-1975, người dân miền Nam Việt Nam phải chịu mấy đợt gọi là "đánh tư sản", đưa dân đi vùng kinh tế mới. Kèm theo đó là mấy đợt đổi tiền.
ĐÁNH TƯ SẢN
- Đợt đánh tư sản đầu tiên là vào tháng 9 năm 1975 tại khắp các tỉnh thành phía Nam, tịch thu nhà cửa của những dân bị coi là tiểu tư sản, tư sản mại bản và cưỡng bức dân đi kinh tế mới.
- Tháng 12 năm 1978, chính phủ tiến hành Chiến dịch cải tạo tư sản lần thứ hai
ĐỔI TIỀN
- Lần thứ nhất vào ngày 22-9-1975: Ở Miền Nam, đổi tiền của chính quyền Sài gòn cũ bằng tiền Giải phóng theo tỷ giá 500 đồng tiền cũ = 1 đồng tiền mới giải phóng. Có phát hành thêm các loại tiền: 10 xu, 20 xu, 50 xu và 1 đồng, 2 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 50 đồng
- Lần thứ hai ngày 3-5-1978: Thống nhất tiền tệ trong cả nước. Ở miền Bắc đổi từ tiền cũ sang tiền thống nhất theo tỷ giá 1 đồng cũ = 1 đồng tiền mới thống nhất. Ở miền Nam đổi tiền giải phóng sang tiền thống nhất theo tỷ giá 1 đồng giải phóng = 8 hào tiền thống nhất. Có phát hành thêm các loại tiền 5 hào, 1 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 20 đồng, 30 đồng, 50 đồng, 100 đồng.
- Lần thứ ba sáng 14.09.1985, hệ thống loa phóng thanh đường phố loan tin Đổi Tiền.
Sau bao biến cố của lịch sử, đồng tiền mới được thống nhất trên cả nước. Lẽ ra đây sẽ là thời điểm đầu tiên của lịch sử phát triển tiền tệ của đất nước, nhưng đáng tiếc là vì nhiều nguyên nhân, đồng tiền lại rơi vào những thăng trầm mới.
Ngay sau đó do nền kinh tế nói chung còn ở trình độ quá nghèo nàn, lạc hậu lại do những sai lầm trong "cải tạo" các thành phần kinh tế - nhất là cải tạo giới công thương nghiệp miền Nam để áp dụng loại "bao cấp" (giống như ở miền Bắc) trong cả nước nên lạm phát đã liên tục gia tăng. Từ chỗ giá trị đồng tiền mới với đồng Dollar Mỹ (1,25đ/1USD). Đồng tiền NHNN/VN mất giá mạnh so với đồng USD, đến trước ngày đổi tiền tháng 9/1985 tỷ giá giữa đồng tiền NHNN /VN so với đồng USD đã là: 150đ/1 USD”
Ngoài chính sách kinh tế sai lầm thì còn sự thù hằn về mặt chính trị. Con em của những quân nhân hay chính quyền VNCH thì có học giỏi mấy cũng không được vào đại học. Những chuyện đó họ thấy nghẹt thở, nên phải đi tìm tự do, bằng cách vượt biên, vượt biển.
Mấy mươi năm đã trôi qua, hậu quả của các đợt đánh tư sản trong Nam cũng như cải cách ruộng đất ở ngoài Bắc để lại những nỗi đau thương, mất mát cho người dân qua biết bao thế hệ cả về tinh thần lẫn vật chất..
Nhưng đó là cả một câu chuyện dài đầy nước mắt, đau thương tột cùng của người miền Nam, không chỉ là người Hoa ra đi, mà cả người Việt cũng đã bắt đầu tìm cách di tản và trốn chạy khỏi quê hương của mình.
- Tàu đô hộ...người dân chống, không bỏ chạy.
- Pháp đô hộ...người dân chống, không bỏ chạy.
- Nhật cai trị ...người dân chống, không bỏ chạy
- Mỹ và đồng minh vào, không bỏ chạy.
- Nhưng Việt Cộng vào, người Việt sợ phải "vắt dò lên cổ" mà trốn chạy (1954 và 1975)