Thứ Ba, 14 tháng 4, 2026

SAU NGÀY 30-4-1975 NGƯỜI DÂN CẢ NƯỚC PHẢI ĂN ĐỘN.


Kể từ 03g00 sáng ngày 10/3/1975, các lực lượng CSBV đã pháo kích 400 quả đạn đủ loại vào khu vực tỉnh lỵ Ban Mê Thuột, đồng thời chúng cũng đã tấn công phi trường dành cho phi cơ L19 tại tỉnh lỵ, Chi Khu Ban Mê Thuột ở kế cận, kho đạn tại 5cs Tây Ban Mê Thuột và ĐPQ ở gần đấy cùng phi trường Phụng Dực tại 7cs Đông tỉnh lỵ Ban Mê Thuột. Hiện khu vực phía Nam thị xã đang bị Cộng quân bao vây. Một số chiến xa của địch cũng đã được ghi nhận.

Tiếp đến chặng đầu tiên trên Liên Tỉnh Lộ 7. Con đường chôn vùi nhiều ngàn xác đồng bào và trẻ thơ vô tội. Và cũng chính là con đường đưa đến sự sụp đổ mau chóng của Quân Lực VNCH, để rồi, mất nước sau đó.!

SAU NGÀY 30-4-1975

NGƯỜI DÂN CẢ NƯỚC PHẢI ĂN ĐỘN.

Tình hình kinh tế VNCH vào cuối tháng 3, đầu tháng 4 năm 1975 bị xáo trộn nghiêm trọng vì chiến sự.

Tính đến 8-04-1975, VNCH đã mất toàn bộ Quân khu I, II và một phần Quân khu III, chỉ còn kiểm soát vùng bắc Sài Gòn và Quân khu IV, tức đồng bằng Mekong.
Chính quyền của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đột nhiên phải đón hàng triệu người tị nạn bỏ chạy về phía Nam sau khi Huế, Đà Nẵng và các tỉnh Cao nguyên và vùng duyên hải rơi vào tay lực lượng Cộng Sản miền Bắc.

Chỉ con số người tị nạn đã ghi tên vào các trại cứu trợ thuộc Quân khu III và IV, ở Bình Dương, Biên Hòa, Bình Tuy, Phước Tuy, Sài Gòn, Tây Ninh, Vũng Tàu, Châu Đốc, Kiên Giang, Kiến Tường, Phú Quốc, Vĩnh Bình và Vĩnh Long, là 356.000 người.
Bên cạnh đó có hàng trăm nghìn người bị mất nhà cửa trong hai vùng chiến thuật 3 và 4 do các cuộc tấn công của CS/BV.

Nhưng kinh tế của phần còn lại mà VNCH kiểm soát vẫn khá vững, ít ra là còn thực phẩm, theo một báo cáo của CIA "The Economic Situation in South Vietnam - March 1975" được giải mật tháng 1 năm 2005.

Tất nhiên, có những bất ổn về tiền tệ: giá vàng và đô la Mỹ tăng mạnh vì lo ngại phải di tản, và Sài Gòn đã mất toàn bộ khu vực kinh tế Cao nguyên, nguồn xuất cảng gỗ, lâm sản và các tỉnh miền Trung, nhưng vụ mùa 1974-75 có thu hoạch cao, và VNCH dư gạo để cung cấp cho quân đội và dân chúng, kể cả người tị nạn CS.

"Sài Gòn vẫn kiểm soát vựa lúa ở đồng bằng sông Mekong, cung cấp gạo cho dân còn do VNCH kiểm soát, gồm cả người tị nạn. Vụ mùa 1974-75 lại bội thu, và các thuyền chở lúa gạo, rau trái tiếp tục cập vào Sài Gòn, không hề bị phe cộng sản ngăn cản. Ngành đánh cá của Nam Việt Nam cung ứng cho Sài Gòn và để xuất cảng, cũng còn nguyên vẹn."

Dù nguồn rau xanh đã mất vì Đà Lạt bị Việt Cộng chiếm, nhưng thịt và cá từ miền Tây vẫn cung cấp đều cho Sài Gòn và các đô thị khác.

Tuy nhiên, phúc trình này đã cảnh báo rằng "nếu phe cộng sản chặn bắt các chuyến vận tải vào Sài Gòn, hoặc chính phủ phải rút quân để bảo vệ thủ đô, thì tình hình có thể không còn tốt như thế".

SAU NGÀY 30-04-1975.

Bức tranh kinh tế của nước Việt Nam do Việt Cộng miền Bắc thống nhất, một hai năm sau khi chiến sự kết thúc lại hoàn toàn ảm đạm và khác hẳn: cả hai miền thiếu lương thực trầm trọng.

Một phúc trình khác của CIA vào tháng 10 năm 1978 nói có ba lý do cho việc thiếu gạo này.

1. Viện trợ, gồm cả gạo của Bắc Kinh cho Hà Nội, để bù vào con số thiếu kinh niên là 800 nghìn tới 1 triệu tấn/năm, bị giảm từ 1974 và cắt hẳn năm 1978.

2. Thu hoạch lúa của cả hai miền Nam và Bắc đều giảm, vì lý do khách quan, như thiên tai (lụt to ở đồng bằng sông Cửu Long), và sâu bệnh.

3. Các chính sách sai lầm nghiêm trọng của nhà nước CS với nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.

Nếu lấy năm 1974, khi hai miền ở hai chế độ khác nhau, so sánh về mặt lương thực của miền Bắc (VNDCCH cũ) là không thay đổi, tức là luôn thiếu thốn, trái ngược hẳn với VNCH.
Sản lượng lương thực, trong đó phần lớn là lúa gạo (chừng 5 triệu tấn/năm), cũng đã luôn thấp hơn miền Nam (VNCH), và trong suốt một thập niên chiến tranh, Hà Nội phải nhập, hoặc nhận viện trợ gạo, lúa mì từ các nước đồng minh XHCN.

Sau ngày 30-04-1975, Tướng Trần Văn Trà nắm chức Chủ tịch Ủy ban Quân quản Sài Gòn - Gia Định của chính phủ Cách mạng Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Hai thành phần VNDCCH và Mặt Trận GPMN thống nhất chính thức vào tháng 7 - 1976.

Vựa lúa VNCH trong khi đó vào năm 1974 đã đạt được 7,1 triệu tấn, một con số kỷ lục.

Ngoài diện tích canh tác lớn hơn miền Bắc, còn có ba lý do để lúa ở miền Nam đạt năng suất tốt: dùng giống thu hoạch cao, phân hóa học, và có máy móc hiện đại hơn.

- Như thế, sản lượng lúa năm 1974 của cả nước là 12,1 triệu tấn (7,1 của miền Nam, 5 triệu của miền Bắc).

- Sau 30-04-1975, sản xuất lúa gạo bắt đầu tụt dốc ở miền Nam.

Giới trẻ với niềm vui ngày 2/09/1976 trên đường phố Sài Gòn đã được đổi tên thành Thành phố HCM

- Việc cắt đứt quan hệ với các nước Phương Tây và tư bản châu Á khiến nguồn phân hóa học không còn, và ngay lập tức năng suất lúa gạo bị giảm.

- Xáo trộn về thị trường vì quản lý kém, khiến sự cung cấp lúa gạo cho đô thị bị ngưng trệ, với chừng 160.000 người Hoa ở Chợ Lớn tìm cách ra đi.


- Việc ngăn sông cấm chợ và lời đe dọa tịch thu ruộng đất, trang trại, vườn rau, do chính quyền mới đưa ra khiến nông dân mất hứng thú sản xuất.

- Chính sách "Kinh tế mới" đem chừng 1,5 triệu người vào các vùng xa đô thị để khai phá, nhằm tăng đất canh tác, có đem lại kết quả về con số.

- Chừng 400.000 hectare đất nông nghiệp được khai phá, nhưng sản xuất không tiến được vì người ta bỏ trốn về thành phố, vì thiếu thiết bị sản xuất, và phân bón.

- Tinh thần làm việc cũng không cao, vì khu kinh tế mới, như lời một nhà báo nước ngoài đến thăm, "không khác gì trại tù Siberia".

- Trận lụt năm 1978 cũng khiến nền kinh tế thêm điêu đứng, sâu rầy cũng phá hoại hoa màu, nhưng yếu tố con người vẫn là chính.

- Năm 1977, cả nước chỉ thu hoạch có 11,2 triệu tấn lúa, thấp hơn kế hoạch nhà nước đề ra 1,8 triệu tấn, và kém chỉ tiêu năm 1976 chừng 800 nghìn tấn.

- Đó là chưa kể miền Bắc vẫn tiếp tục cần tới 1 triệu tấn gạo từ viện trợ bên ngoài mà nay không còn.

Vì thế, không lạ là từ sau 1975, nhà nước tung ra phong trào ăn độn, với bo bo, khoai mì (sắn), và khoai tây được trồng khắp nơi bù vào cơm ăn hàng ngày.

Trong việc này, Việt Nam có thành tích đáng kể, theo báo cáo của CIA.

- "Các loại ngũ cốc như củ mì, bắp và khoai tây đã tăng từ 900.000 tấn năm 1975, lên 1,2 triệu tấn năm 1976 và 1,8 triệu vào năm 1977."

- Một tình trạng gia tăng khác là vào hai năm 1976 và 1977, số gia súc, nhất là heo, bị nông dân giết mổ nhiều hơn...vì không muốn bị nhà nước tịch thu.

- Hậu quả của việc này là sau đó, đàn gia súc miền Nam không phục hồi được, giống như tình hình chung của nền nông nghiệp.

- Căng thẳng với Campuchia khiến chương trình Kinh tế mới và việc khai thác nông nghiệp các vùng xa đô thị bị ngưng trệ, rồi chết hẳn.

- "Các đơn vị quân đội vốn thường được điều động làm phần đầu của công tác xây dựng khu Kinh tế mới như phá rừng, tạo mặt bằng, xây mương cống, nhưng nay phải chuyển ra biên giới, đối mặt chiến tranh với kẻ địch. Những vụ chạm súng sau đó đã phá nhiều khu kinh tế mới ở Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang và Kiên Giang, buộc chính quyền phải giảm bớt chương trình đưa người vào các vùng thưa dân giáp biên với Campuchia..."

- Mô hình kinh tế "XHCN" từ miền Bắc được áp dụng cho cả nước sau 1975. Sau thu hoạch nông dân đóng thuế bằng cách nộp lúa và hoa màu cho hợp tác xã.

- Chỉ tiêu "tự lực về lương thực" cả nước cho năm 1980 đã hoàn toàn tuột khỏi tầm tay của nhà nước.

- Khi các vấn đề của nông nghiệp chưa có hướng giải quyết thì bộ máy cầm quyền CS, đã bắt đầu chuyển tầm ngắm vào các khu vực khác của nền kinh tế.

- Đó là "cải tạo công thương nghiệp" ở đô thị từ tháng 3 năm 1978, áp dụng chế độ tem phiếu ngay cả ở TPHCM và thử nghiệm "hợp tác hóa" ở nông thôn.

- Chỉ trong vòng mấy năm sau ngày 30-4-1975, người dân miền Nam Việt Nam phải chịu mấy đợt gọi là "đánh tư sản", đưa dân đi vùng kinh tế mới. Kèm theo đó là mấy đợt đổi tiền.


ĐÁNH TƯ SẢN

- Đợt đánh tư sản đầu tiên là vào tháng 9 năm 1975 tại khắp các tỉnh thành phía Nam, tịch thu nhà cửa của những dân bị coi là tiểu tư sản, tư sản mại bản và cưỡng bức dân đi kinh tế mới.

- Tháng 12 năm 1978, chính phủ tiến hành Chiến dịch cải tạo tư sản lần thứ hai

ĐỔI TIỀN

- Lần thứ nhất vào ngày 22-9-1975: Ở Miền Nam, đổi tiền của chính quyền Sài gòn cũ bằng tiền Giải phóng theo tỷ giá 500 đồng tiền cũ = 1 đồng tiền mới giải phóng. Có phát hành thêm các loại tiền: 10 xu, 20 xu, 50 xu và 1 đồng, 2 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 50 đồng

- Lần thứ hai ngày 3-5-1978: Thống nhất tiền tệ trong cả nước. Ở miền Bắc đổi từ tiền cũ sang tiền thống nhất theo tỷ giá 1 đồng cũ = 1 đồng tiền mới thống nhất. Ở miền Nam đổi tiền giải phóng sang tiền thống nhất theo tỷ giá 1 đồng giải phóng = 8 hào tiền thống nhất. Có phát hành thêm các loại tiền 5 hào, 1 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 20 đồng, 30 đồng, 50 đồng, 100 đồng.

- Lần thứ ba sáng 14.09.1985, hệ thống loa phóng thanh đường phố loan tin Đổi Tiền.

Sau bao biến cố của lịch sử, đồng tiền mới được thống nhất trên cả nước. Lẽ ra đây sẽ là thời điểm đầu tiên của lịch sử phát triển tiền tệ của đất nước, nhưng đáng tiếc là vì nhiều nguyên nhân, đồng tiền lại rơi vào những thăng trầm mới.

Ngay sau đó do nền kinh tế nói chung còn ở trình độ quá nghèo nàn, lạc hậu lại do những sai lầm trong "cải tạo" các thành phần kinh tế - nhất là cải tạo giới công thương nghiệp miền Nam để áp dụng loại "bao cấp" (giống như ở miền Bắc) trong cả nước nên lạm phát đã liên tục gia tăng. Từ chỗ giá trị đồng tiền mới với đồng Dollar Mỹ (1,25đ/1USD). Đồng tiền NHNN/VN mất giá mạnh so với đồng USD, đến trước ngày đổi tiền tháng 9/1985 tỷ giá giữa đồng tiền NHNN /VN so với đồng USD đã là: 150đ/1 USD”

Ngoài chính sách kinh tế sai lầm thì còn sự thù hằn về mặt chính trị. Con em của những quân nhân hay chính quyền VNCH thì có học giỏi mấy cũng không được vào đại học. Những chuyện đó họ thấy nghẹt thở, nên phải đi tìm tự do, bằng cách vượt biên, vượt biển.
Mấy mươi năm đã trôi qua, hậu quả của các đợt đánh tư sản trong Nam cũng như cải cách ruộng đất ở ngoài Bắc để lại những nỗi đau thương, mất mát cho người dân qua biết bao thế hệ cả về tinh thần lẫn vật chất..

Nhưng đó là cả một câu chuyện dài đầy nước mắt, đau thương tột cùng của người miền Nam, không chỉ là người Hoa ra đi, mà cả người Việt cũng đã bắt đầu tìm cách di tản và trốn chạy khỏi quê hương của mình.

- Tàu đô hộ...người dân chống, không bỏ chạy.
- Pháp đô hộ...người dân chống, không bỏ chạy.
- Nhật cai trị ...người dân chống, không bỏ chạy
- Mỹ và đồng minh vào, không bỏ chạy.
- Nhưng Việt Cộng vào, người Việt sợ phải "vắt dò lên cổ" mà trốn chạy (1954 và 1975)

Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2026

MHỚ THƯƠNG CHA

 


BA MƯƠI HAI NĂM

VẮNG BÓNG BA.

11-2 năm Giáp Tuất

11-2 năm Bính Ngọ


NHỚ VỀ CHA


Đêm về nhin ảnh Mẹ Cha

Lung linh ngọn nến trong nhà rọi soi

Người đi khuất bóng muôn đời…

Mang  mang sầu biệt một trời nhớ thương


Tưởng nhớ về hình bóng cha đã khuất với nỗi nhớ mong của mình, mong tìm lại những ký ức và tin rằng cha vẫn ở cạnh bên bằng cách nào đó, bằng những yêu thương muôn đời vẫn thế, không hề thay đổi.


ĐÊM NAY


Con quỳ gối xin cúi đầu tạ lỗi

Bên ảnh Cha như những lúc con thơ

Cha xoa đầu với ánh mắt thứ tha

Con bật khóc…lòng con đau quặn thắt


Cha muốn khóc nhưng còn gì để khóc

Nước mắt Cha đã khô cạn từ lâu

Chẳng còn chi trong đôi mắt trũng sâu

Chỉ còn lại trái tim Ba nóng hổi


Trái tim ấy luôn ấm tình phụ tử

Bao niềm thương không nói được nên lời

Nỗi nhớ nầy, con mãi khóc thâu đêm...

Xin thứ lỗi Cha một đời gian khổ


Đường Cha đi chông gai để đường con phẳng lặng,

mà sao con …Vấp mãi sai sót trong tim...

Con đã trưởng thành để ngẫm gì sai hay đúng

xin Cha thương mà tha thứ những lỗi lầm.


MỘT CÕI ĐI VỀ


Như thế là xong một kiếp người

Đất chừng ba tấc phủ Ba tôi

Cỏ xanh lấp kín mồ không thấy

Nỗi nhớ rồi đây hẳn sẽ phôi


Bởi sống cỏi trần nơi tạm gởi

Vãn sanh nơi chốn đặng bình an

Cha nay được Tổ ban phần thưởng

Lên cõi, con dâng một nén nhang


Cầu mong Cha được, hồn siêu thoát

Để hưởng an vui chốn cửu trùng

Tán tụng muôn đời dày đức độ

Ngợi khen trọn kiếp Đấng toàn năng


Mong Cha qua khỏi nơi cay đắng

Sưởi ấm hồn Cha hết giá băng

Choáng ngợp thiên thu vùng ánh sáng

Hào quang chiếu tỏa thật công minh…


NHỚ CHA


Chậm thôi nhé.! Thời gian trôi nhanh quá.!

Nhuộm tóc Cha thêm trắng bạc nữa rồi

Từng nếp nhăn là mỗi chặng đường đời

Vai nặng gánh nên lưng còng trĩu xuống


Lòng ray rứt với muôn ngàn nổi nhớ

Nổi nhớ Cha tim con chớm nhói đau

Ngày đầu tiên đến lớp quãng đường xa

Cha vội cõng sợ đi lâu con mỏi


Và cứ thế thời gian trôi qua vội

Nay chân con vững chãi bước đường dài

Chỉ lo Cha chân yếu lại run tay

Mà phải chống phải chèo vì cuộc sống


Cha luôn phải thương con nên cố gắng

Để mong con luôn được sống bình an

Như thế thôi là Cha mãn nguyện rồi

Chẳng ngại khổ để cho con no đủ


Đời là biển Cha là thuyền trôi nổi,

Đưa con đi đến những bến bờ xa

Đến những nơi cuộc sống thắm màu hoa

Chưa đến đích nên khiến Cha gắng sức


Cha là đất con mầm non mới chớm

Con vương lên nhờ mạch sống của Cha

Cha đã mang bao vị ngọt phù sa

Để vun bón thân con dần cứng rắn


Cha dìu dắt con đi vào cuộc sống

Ban cho con nghị lực sống hơn người

Dạy cho con kinh nghiệm sống vào đời

Với tất cả những gì đời Cha biết


Một đời chỉ... Vì con Cha không tiếc

Sống cho con Cha mải miết hy sinh

Bao công lao bậc dưỡng dục sinh thành

Làm sao trả, ơn Cha cao hơn núi


THIẾU CHA


Mai sớm chiều trưa, luống thẫn thờ,

Ra vào yên ắng lặng im hơi

Thư phòng vắng ngắt bên chồng sách

Nghiên bút ơ hờ thiếu bóng ai.?

Hình bóng dáng ai? Nay thiếu vắng

Mơ hồ êm ả giọng trong mơ.!

Vườn sau ngõ trước hương còn đượm,

Buồn nhớ Ba đi chẳng trở về.


MƠ VỀ CHA


Giấc mộng đêm thâu đẫm lệ sầu

Chập chờn mơ thấy bóng Cha đâu?

Đèn trăng héo hắt len song vắng

Soi ảnh Cha xưa giấc tỉnh mê

Đất nước đổi thay từ dạo ấy.

Đầm đìa không ngớt lệ thương đau

Mùa đông sáng tối không còn nữa

Mạ khóc...Ba đi...Tiếng vỡ òa


Cha đã ngàn thu tách biệt rồi

Từ nay con nhận nỗi sầu thôi

Hoàng hôn phủ xuống đời riêng lẻ

Thương nhớ chìm trong ngấn lệ rơi


Thương Cha tình khắc thâm sâu

Biết tìm đâu gặp… Đến khi bạc đầu.!


TÌNH PHỤ TỬ


Tình phụ tử, lòng con luôn ghi nhớ

Cha mãi là ngọn gió mát dịu êm

Ánh sáng Cha đường soi lối bình yên

Núi che bóng trên mọi miền đất nước

Khắp vạn nẻo, đường đó đây thông suốt 

Đưa con đi Cha chọn lối cho con

Hướng vào dòng, sông nước chảy êm xuôi

Làm tươi mát cho cuộc đời quyến luyến.


THÂM SÂU


Thâm tâm sâu kín giữ lòng nhau

Tình cảm ăn sâu đượm thấm màu

Nghĩa đạo hữu duyên đời trọn kiếp  

Nặng lòng mặc khách với tao nhân

.

BA MƯƠI HAI NĂM

VẮNG BÓNG BA.

11-2 năm Giáp Tuất

11-2 năm Bính Ngọ


Mườ mộ̣t tháng hai, năm Bính Ngọ

Nắng Xuân xa xứ nóng khô da

Lại nhớ dáng Cha, mùa Xuân trước

Ngày xưa  vui quá vẫn còn Cha


Một đời cha, luôn khó nhọc nâng niu

Nuôi khôn lớn dạy con điều phải trái

Tiếng cười nói với lời ru của mạ

Đất nảy mầm... Đàn con cái lớn khôn.!


Gió thoảng đưa, thời gian chóng trôi qua

Con gục mặt nhớ về Cha đã khuất

Xin khấn nguyện chỉ một điều duy nhất

Vẫn yêu cha và luôn mãi không phai.


Tuổi trẻ qua, thời bồng bột... Đổi thay

Nhờ những chặn của những ngày thử thách

Khi hiểu rõ... Không một lời than trách

Nghĩ về Cha, đã tẩy sạch đời con.


Thứ Tư, 18 tháng 3, 2026

HẠNH PHÚC QUÀ BỐN MÙA,!

 


NGÀY HẠNH PHÚC


Sợi nắng ban mai lúc rạng đông
Bao la trời đất nhuộm tươi hồng
Hai ta kế cận bên đồi mộng
Nhìn ngắm mây trời khoảng trống không.


Nắm tay bước nhịp thật thanh nhàn
Làn gió thông reo họa khúc vang
Rực rỡ yêu đương tình xán lạn
Gió mây sánh hội phải xênh xang.


Bên nhau ta thấy ngọt thơm ngào
Chim hót hòa vui thắm xuyến xao
Trời đất cách nhau đầy mộng ảo
Đông sang xuân đến nở hoa Đào.


Ngời trong mắt biếc tựa như ngà
Môi miệng em cười lúc nở hoa
Âu yếm nhìn anh đôi má ửng
Hai ta mãi mãi chẳng rời xa.

"Quà bốn mùa" thường tượng trưng cho hạnh phúc trọn vẹn, bình yên qua mọi thăng trầm thời gian Xuân Hạ Thu Đông.

Đó là sự yêu thương bền chặt, chia xẻ kỷ niệm, và cảm nhận vẻ đẹp cuộc sống trong từng khoảnh khắc. Hạnh phúc đích thực không xa xôi mà nằm trong sự bình lặng của tâm hồn khi đi qua đủ 4 mùa.


QUÀ BỐN MÙA,!


Người đã cho đời những áng thơ
Tình yêu thương mến thật vô bờ
Mùa Xuân chớm nụ cho đời sống
Ý ngọc lời vàng quả thực mơ


Hạ đi bịn rịn người còn lại
Đêm nhớ ngày trông, ngóng đợi chờ
Người cảm mến hè luôn nhớ mãi
Vì còn trân quý những vần thơ


Thu nầy nắng gió thổi heo may
Dáng cũ yêu thương chẳng tách rời
Nắng gởi cho hồn ru tiếng hát
Nhớ về Thu ấy gió vờn mây


Thu đến, thu đi Đông lại tới
Mang theo cơn lạnh héo khô gầy
Phố nhỏ giờ đây còn vắng vẻ,
Nét buồn điểm nhẹ chín tầng mây.


Nhớ thương một thủa đong đầy,
Hàng mưa nắng tỏa còn đây nỗi lòng.
Xa đông phố núi bao lần,
Bỗng dưng lại thấy bần thần nhớ đông.


Trời rét mướt, Đông về nhóm sưởi,
Hàng cây gầy lạnh cánh tay trơn,
Chiều nắng tắt mây mờ tuyết phủ,
Khúc tình buồn lạnh cóng trơ gan.


NGÀY KỴ BA (11-2 NĂM BÍNH NGỌ ̣̣- 29/3/2026).


Ngày kỵ Ba 11-2 năm Bính Ngọ,

(29/3/2026).


Đất rộng bao la,

không đong đầy tình mẹ

Bầu trời lồng lộng.

không đếm được tình cha


Thực vậy, công lao của cha dành cho con cái không thể đong đo, cân đếm được, nếu mẹ luôn ân cần, chăm sóc ta từng li từng tí thì có lẽ cha là người âm thầm yêu thương chúng ta.

Người không thể hiện sự quan tâm rõ ràng như mẹ, người thầm lặng, bảo vệ ta, cha là trụ cột gia đình, luôn nghiêm khắc với ta nhưng thực chất lại là người mềm lòng nhất, quan tâm ta nhất.

Tuổi thơ của ai mà lại không một lần được “cưỡi” lên lưng cha, được cha dạy chơi thả diều, đạp xe. Tuy cha không hay nói chuyện, chia xẻ với ta nhiều, nhưng mỗi lời dạy của cha đều thấm thía, khắc sâu trong lòng con.

Dù mai sau khôn lớn, chúng ta sẽ luôn nhớ mãi lời dặn của cha, nhớ mãi cảm giác ấm áp khi được cha ru ngủ, nhớ mãi cái xoa đầu dịu dàng của cha cùng lời động viên : “Con giỏi lắm”.

Tình phụ tử – một tình cảm thiêng liêng, sâu sắc theo ta suốt cuộc đời, mãi đến khi trưởng thành, làm cha, làm mẹ, ta mới thấu hiểu được nỗi vất vả ấy, mới thấy yêu thương, quý trọng cha.

Hãy trở thành một người con cho tròn chữ hiếu, trân trọng, quan tâm, lo lắng cho cha đừng trở thành những đứa con vô tâm, bất hiếu. Hãy nhớ “Gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng cha”.

Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2026

NHỮNG VẦN THƠ THẤT NGÔN ̣̣̣- DUYÊN TÌNH

 


DUYÊN TÌNH

Dòng nước chảy, "buôi" lơi nước ngược
"Vược" bơi ngang, nước chảy xuôi dòng
Thuyền em đợi bến, sông an cựu
Anh trẩy thuyền lên đến bến sông

Ô Thước cầu treo biết chốn nào?
Bao la thầm ước, nước trời đâu?
Đêm khuya thấm lạnh mù khơi chốn
Cảnh vắng im lìm dạ thấm sâu

Muốn biết cạn sâu dò đáy nước
Chèo qua Thiên Mụ đến Kim Long
Sương sa nhuốm lạnh theo cơn gió
Trăng lặn chênh chao thấy chạnh lòng

Hướng chợ Đông Ba tiếng gáy vang
Tràng Tiền xuôi ngược bóng theo nàng
Trống làng Thọ Lộc sang canh sớm
Một chiếc thuyền tình thú suốt canh

Trước bến, Văn Lâu, một buổi chiều
Khách trên đường phố chẳng bao nhiêu.?
Đông ba phố chợ người thưa thớt
Quang cảnh bên sông vắng bóng nhiều

Trong đục, mười hai, bến nước chờ
Ngược chèo theo gió, mấy ai trông
Động đào cũng muốn vào nơi đó
Mong gặp ông Giăng hỏi chuyện Tơ

Tình đẹp hai ta, váng đóng thuyền
Vẫn như lời hẹn phải nên duyên
Lên chùa khấn vái xin cầu phúc
Mãn nguyện yêu thương mãi vững bền


TUỔI GIÀ Vợ Chồng nay đã về già.! Lưng còng gối mỏi, làn da đồi mồi Khó khăn lúc đứng khi ngồi Mắt mờ, tai điếc, răng thời lung lay. Về hưu rảnh rỗi cả ngày Vợ nhà đổi tính nên hay nói nhiều Chồng nghe Vợ nói đủ điều Trời mưa trời nắng, từ chiều tới khuya... ĐỒNG VỢ ĐỒNG CHỒNG Bờ bến sông xa với tháng ngày Chiếc thuyền chèo lái mạnh đôi tay Mặc cho sóng gió, thuyền lây lấc Lảng vảng mây đưa bóng quấy rầy Phía trước vợ ngồi bơi tới thẳng Đằng sau chồng lái hướng đường ngay Tình sâu nghĩa nặng, nhiều gian khổ Thương tặng cho nhau cuộc sống đầy.

Chủ Nhật, 15 tháng 2, 2026

TỴ QUA NGỌ ĐẾN (2025 - 2026)

 


Nói về “độc dược” thì phải kể đến rắn, một trong những sinh vật có độc ghê gớm trên thế giới. Con rắn chúa hổ mang chỉ cắn nhẹ, bơm vào tí nọc cũng đủ giết chết một chú voi khổng lồ.

Trong văn học Việt Nam có bài vè mô tả những loại rắn độc kinh khủng như:

Hổ hành, hổ ngựa, rắn ráo, rắn nâu

Quỷ khóc thần sầu: hổ mang, hổ sậy

Thấy đà run rẩy: cạp nia, cạp nong

Nghe đến hãi hùng: hổ mây, hổ bướm…

Có những con rắn độc gây sợ hãi, run rẩy đến nỗi “quỷ khóc, thần sầu”, nhưng đặc biệt có con ngựa rất hùng dũng, không sợ hãi, vẫn sống “nhăn răng” khi bị rắn độc cắn. Nếu chẳng may, bị “sát thủ thầm lặng” châm độc, ngựa chỉ ốm nhẹ hay “say xỉn” choáng váng vài ngày rồi hồi phục chứ không hề bị trúng “độc chiêu” mà hồn lìa khỏi xác.

Nhìn thấy sự bí ẩn kỳ diệu này, các nhà nghiên cứu, các vị thầy thuốc đã khám phá ra cái bí mật tuyệt vời ẩn náu trong ngựa để chế biến thuốc giải độc rắn: huyết thanh (serum).

Huyết thanh là một “kỳ tích” được khám phá ra trong tự nhiên mà bàn tay thiêng liêng của tạo hóa đã ẩn giấu bên trong con ngựa, một sinh vật tưởng chỉ có ích lợi cho việc vận chuyển, xông pha chiến trận, một bộ môn thể thao, hay thậm chí cho thịt (nếu có người thích ăn hoặc vì thiếu kém thực phẩm).

Những nhà khoa học, nghiên cứu đã tìm thấy huyết thanh có chứa Globulin, được sản xuất bằng cách chích vào ngựa một loại nọc rắn, sau đó chiết xuất huyết thanh từ máu ngựa, chế biến thành thuốc chích vào người sẽ giúp giải được các độc tố của nọc rắn. Vì trong máu ngựa có hệ thống miễn dịch, tự phản ứng và sinh sản ra kháng thể để trung hòa nọc độc.

Khi chích nọc rắn vào ngựa, các kháng thể tự nhiên xuất hiện trong máu. Sau khoảng 2-3 ngày, máu được lấy ra từ ngựa. Trong máu ngựa, hồng huyết cầu (Red Blood Cells) được phân tách rồi loại bỏ, còn lại huyết tương (Plasma – phần màu trắng) được xử lý, tạo ra thuốc giải độc. Loại thuốc quý giá này được chích vào những nạn nhân bị rắn độc cắn để cứu sống họ.

Điều bất hạnh có thể xảy ra khi bị rắn cắn, nếu chữa trị chậm trễ, chất độc đã ngấm vào cơ thể, phá lục phủ ngũ tạng, làm suy tim, tê liệt hệ thần kinh thì nạn nhân không thoát khỏi “độc chiêu” của “sát thủ”.

Ấn Độ là một xứ sở có nhiều chuyện thần thoại về rắn. Họ nuôi rắn, huấn luyện rắn uốn éo nhảy múa theo điệu nhạc, làm trò xiếc, có nơi người ta thờ phụng coi rắn là linh vật.

Và cũng tại Ấn Độ, nơi có nhiều cơ sở sản xuất thuốc giải độc, nơi hàng ngàn con ngựa được nuôi nấng, chăm sóc, bảo vệ để sản xuất ra loại huyết thanh cứu mạng người.

Từ cuối thế kỷ 19, phương pháp điều trị những nạn nhân bị rắn độc cắn bằng huyết thanh được cho là có hiệu quả và phổ biến trong y học.

Qua những quá trình nghiên cứu và chế biến với những phương pháp ngày càng tân tiến hơn. Đầu tiên, rắn độc được gây mê bởi khí CO2 (thuốc an thần), giúp bảo đảm an toàn cho các nhà nghiên cứu điều chế huyết thanh. Khi con rắn “ngủ mê”, thì chuyên gia dùng dụng cụ cố định vị trí của đầu và banh miệng ra, ấn hai nanh vào miệng ống nghiệm, từ từ xoa nhẹ phần đầu để kích thích rắn tiết ra nọc. Có một số rắn không bị “gây mê” bởi ngửi khí CO2 nên phải cẩn thận dùng những phương pháp và dụng cụ an toàn hơn để tránh bị cắn và ngộ độc.

Sau khi thu thập, nọc độc được bảo quản bằng phương pháp đông khô (Freeze-drying) ở -56 độ C. Đặc biệt mỗi loại rắn độc cho màu sắc đặc trưng riêng như: màu hồng của rắn Taipan, màu vàng nâu của rắn King Brown và màu vàng nhạt của rắn Tiger. (Theo “The Science Times”)

Nọc độc của rắn được hình thành từ tuyến nước bọt nằm ở phía sau đầu. Răng nanh của rắn rỗng, giống như một cây kim chích. Khi rắn cắn, các cơ ở đầu như cái ống chích ép các tuyến nọc, bơm chất độc qua răng nanh vào thịt “con mồi.”

Các chất độc này có tính đa dạng tùy theo loại rắn, nhưng thường nhắm vào hệ thần kinh gây tê liệt:

– Độc tố gây hại máu làm vỡ hồng huyết cầu, làm đông máu, giảm huyết áp.

– Độc tố gây độc cho cơ bắp làm chết mô cơ, còn gọi là hoại tử. 

Hằng năm, có hàng triệu người bị rắn cắn dẫn đến hàng ngàn ca tử vong, đặc biệt ở Châu Á và Châu Phi, nơi có nhiều loài rắn độc. Ở những nơi “đồng không mông quạnh”, người nông dân là lực lượng lao động thường xuyên đụng độ với rắn nên việc thiếu kém bệnh viện có thể là một thách thức cần phải giải quyết để giảm bớt tỷ lệ tử vong.

Nọc độc của rắn gây chết người, nhưng mặc khác, nó cũng có tiềm năng về y học dùng để cứu chữa như “lấy độc trị độc”. Các chuyên gia nghiên cứu đã sử dụng “Protein” từ nọc rắn để điều chế thuốc trị bịnh ung thư, huyết áp cao, đau tim, đột quỵ, Alzheimer và Parkinson. (Ngoài nọc rắn, các Protein trong nọc độc của những sinh vật như nhện, bò cạp, cũng đã đóng góp vào việc điều chế những loại thuốc trị bệnh khác.)

Từ xưa đến nay, rắn được cho là một sinh vật thầm lặng, đầy bí ẩn và đáng sợ đối với con người và các loài sinh vật, vì nọc độc của rắn gây tử vong. Ngựa là một thành phần quan trọng, một “đối tác” tất yếu không thể thiếu trong quá trình chế biến thuốc giải độc. Máu của ngựa rất quý giá vì chứa nhiều kháng thể. Ngựa là một sinh vật không nể nang, không sợ hãi rắn cho dù loài rắn đó có nọc “độc nhất vô nhị.”

Người ta yêu quý ngựa như thú cưng, con vật chí tình, trung thành, trọng nghĩa. Nếu không có con vật dễ thương, tốt bụng, tốt máu này, nhiều người sẽ mất mạng chỉ vì một vết rắn cắn. Có người cho rằng:

 “Ngựa là món quà của thượng đế ban tặng cho nhân loại.”

PHIẾM LUẬN VỀ NĂM TUẤT



 PHIẾM LUẬN VỀ NĂM TUẤT

Năm ĐINH DẬU chấm dứt, thì năm MẬU TUẤT được bàn giao, bắt đầu từ giờ giao thừa giữa đêm thứ năm, 15- 02- 2010 để cầm tinh đến 24 giờ đêm 04- 02- 2019.
Năm Tuất tức Chó cũng là Khuyển, cho nên trong bàn dân thiên hạ cũng thường nhắc nhở luôn trong sinh hoạt xã hội hằng ngày, từ đó mới có những từ ngữ liên quan, xin trích dẫn như sau:

Tuất là con Chó đứng hạng thứ 11 của 12 con vật (Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi) trong Thập Nhị địa Chi.
- Giờ Tuất từ 19 gìờ đến đúng 21 giờ tối.
- Tháng Tuất là tháng Chín của năm âm lịch.

NÓI ĐẾN CHÓ TA LIÊN TƯỞNG ĐẾN.

- Chó Săn là Chó để đi săn.
- Chó Dại là Chó điên thường hay cắn người.
- Chó Con là Chó mới đẻ.
- Chó Ghẻ là Chó bị ghẻ hoặc để chửi mắng những người ở dơ
- Chó Sói là Chó này rất hung dữ như con Sói.

NHỮNG TỪ NGỮ HAY TÊN CÂY CỎ.

Mèo đàng, Chó điếm.
Hàm Chó, Vó Ngựa.
Chó chết chủ.
Chó má
Chó đói.
Cha Chó, Mẹ Lợn.
Nai dạt móng, Chó le lưỡi.
Chó sủa ma.
Cây Chó đẻ tức cây Hy Thêm.
Cây cẩu tích.
Cây cẩu vĩ trùng.
Cây cẩu tử thảo tức cây Cóc mẵn.

CA DAO, TỤC NGỮ, THÀNH NGỮ NÓI VỀ CHÓ.

Chó đâu Chó sủa lổ không,
Gái đâu tốt nết mà chồng lại ghen.
hoặc là :
Chó nào Chó sủa chỗ không,
Chẳng thằng ăn trộm cũng Ông ăn mày....v.v (ca dao).
Chơi với Chó, Chó liếm mặt.
Chó sủa mặc Chó, đường ta ta cứ đi.
Chó cậy gần nhà, Gà cậy gần chuồng.
Nắng tháng ba, Chó Gà le lưỡi...v.v.(tục ngữ).
Chó ăn đá, Gà ăn muối.
Chó cắn áo rách.
Chó chạy cong đuôi.
Chó cùng đường.
Chó chết hết cắn.
Chó chui gầm tủ thức ăn.
Chó dử mích lòng láng giềng.
Chó dại có mùa, người dại quanh năm.
Chó đen giữ mực.
Chó già giữ xương.
Chó gậm xương Chó.
Chó gầy hổ mặt người nuôi.
Chó ghẻ có mỡ đằng đuôi.
Chó giống cha, Gà giống mẹ.
Chó khôn chớ cắn càn.
Chó giữ nhà, Gà gáy trống canh.
Chó không sủa, Chó cắn.
Chó giữ nhà, Mèo bắt Chuột.
Chó ngáp phải ruồi.
Chó liền da, Gà liền xương.
Chó nào sủa nhà nấy.
Chó chạy bàn độc.
Chó tha đi, Mèo tha lại.
Chó treo, Mèo đậy.
Mồm Chó, vó Ngựa.
Chó chạy rong
Nhục như Chó.
Gấu ó như Chó với Mèo.
Nói như Chó cắn ma.
Mắng Mèo, chửi (quèo qua) Chó.
Ông ống như Chó cắn ma.
Trai ở nhà bên vợ như Chó chui gầm giường.
Không có Chó, bắt Mèo ăn cứt.
Tham ăn như Chó.
Thật thà như Chó cắn trộm.
Chó nhai giẻ rách.
Tàng hầng như Chó bị thiến...v.v. (thành ngữ)


Khi viết đến năm TUẤT tức là năm do con Chó cầm tinh, thì cũng lắm giai thoại về con "Chấn Bốn Cho" này, xin trích dẫn như sau: Ở Việt-Nam chúng ta xem loài Chó như gia súc trong nhà,không khác Mèo, Gà, Heo .v.v... Thông thường nuôi Chó để giữ nhà, nuôi Mèo để bắt Chuột trong nhà, nuôi Gà để ăn thịt hay lấy trứng, nuôi Heo để bán ... vì thế những loại gia súc này được cho ăn những đồ cặn dư thừa, cho nên có câu: "Chó gặm xương, Mèo liếm chảo" là thế đó, cho nên mỗi bửa cơm trong gia đình, ở dưới gầm bàn thường thấy các con Chó nằm chực xương, để dành nhau từng miếng xương bỏ xuống của chủ nhà
đã ăn hết thịt, cho nên cuộc đời của chúng nó sống rất dơ bẩn. Thậm chí nó rất thích phân người, nói đến đây tôi không thể nín cười khi những hình ảnh xa xưa đó, lại có dịp xuất hiện...hình ảnh bà mẹ đang xi cho con...mà chú Chó Vằn đang chực chờ món ngon của lạ. Có dịp về quê chúng ta lại thấy được cảnh những con Chó cỏ đang đứng chờ khi "Chủ nhân ông" ra đồng xả bầu tâm sự, khi xong việc, vừa dời gót là bầy Chó phóng thật nhanh đến đích, cắn sủa dành nhau chiến lợi phẫm. Lối tả chân nầy chẳng ngoa tý nào cả, vì kẻ tiện nhân còn chứng kiến rất nhiều, nhất là sau tháng tư bảy mươi lăm ở các vùng quê, vùng "kinh tế mới", nơi mà chế độ mới gọi là liên khu năm (Nam-Ngãi- Bình-Phú). Đã đày "bọn ngụy quyền, ngụy quân" chúng tôi đi tháo gở bom mìn để "giải phóng" đất đai cho người dân canh tác. (Người Dân đói, bọn Ngụy đói, tụi Chó đói).
Trái lại, con Chó ở các nước Tây Phương thì được trân quý, được ôm ấp hôn hít say sưa, được nuôi dưỡng chu đáo bằng chứng cho những thức ăn riêng biệt rất hợp vệ sinh, được chích ngừa phòng bịnh không khác loài người. Có người còn mang cả Chó vào giường để ngủ chung.
Ngoài ra, trên bảng sắp thứ tự các giai tầng trong xả hội Tây Phương, đã nâng con Chó là loài gia súc ở Việt-Nam hơn cả đàn ông. Bởi vì, nhứt là con nít, nhì phái nữ, ba cây cỏ, bốn thú vật, năm đàn ông...
Đó quả là: "tư tưởng giửa Đông và Tây không bao giờ gặp nhau.
Ở Pháp, là một trong những nước Tây Phương rất thích Chó, Mèo, cho nên không có luật lệ cấm việc Chó Mèo phóng uế bừa bải, làm mất vệ sinh công cộng, không khác nước Ấn Độ tha hồ thả Bò đi đầy đường rồi cũng đụng đâu phóng uế bừa bải, cả nước xem như chuồng Bò là vậy. Riêng nước Pháp ngày nay ra đường mọi người đều thấy "có chức" (xin đừng nói lái dơ lắm) đầy cả đường, nếu ai muốn đi Pháp thăm viếng hảy coi chừng!
Các nước Tây Phương nhứt là các Ông Hoàng Bà Chúa ở Âu Châu, xem Chó là bạn thân, nên trong các cung điện nguy nga của hoàng gia đều có nuôi ít nhiều Chó, ví như ở Đan Mạch nữ hoàng có nuôi loại chó Balthazar, giống nhỏ con lại lùn, hai tai dài phết đất, màu lông vàng đậm óng mượt. Ở Thụy Điển hoàng gia nuôi loại chó Labrador đã được quốc vương Carl Gustal và hoàng hậu Silvia tận tình săn sóc. Ở Tây Ban Nha vua Juan Carlos nuôi loại chó Berger rất hung bạo, nhưng nhà vua chịu khó huấn luyện để nó trở thành hiền từ và làm bạn thân với trẻ con, thật là kỳ công. Ở Monaco, ông hoàng Rainier cũng có nuôi loại chó Foxterrier, lông dài óng mượt có hai màu trắng vàng. Đặc biệt, ở Anh Quốc, vua Phillip và nữ hoàng Elizabeth nuôi nhiều chó hơn cả, nghe đâu cả chục con chó loại Corgi, có lông vàng ánh, nhỏ con, hai tai nhọn quắt lúc nào cũng vểnh lên để nghe ngóng, thường hay sủa và tấn công đối phương ngay, vì loại chó này thường huấn luyện để chăn cừu. Kể các hoàng gia và các loại chó được nuôi thì rất nhiều, không thể kể hết ra được, Bởi vì :"Đất Địa nào, Phong Hóa nấy" .
Riêng ở Việt-Nam chúng ta, thì thấy các loại chó được phân loại tùy theo màu lông của nó, đồng thời đặt tên nó luôn, không như các nước Tây Phương, ví như:

- Chó có lông màu Đen được gọi là chó Mực.
- Chó có lông màu Vàng được gọi là chó Vàng, Phèn.
- Chó có lông khoang nhiều màu được gọi là chó Khoang hay chó Vá hoặc chó Đốm, chó Vện.v.v...

Từ đó, các ông thường bắt chó để ăn nhậu, biết cách nấu những món chó như thế nào? gồm có vị gì để cho hợp khẩu, loại chó nào ăn ngọn, loại chó nào ăn dở, cho nên mới có phân hạng như sau : "nhứt mực, nhì phèn, tam khoang, tứ vện" ...v.v. Nói đến món "cờ tây", tôi bị gạt một lần, hai thằng bạn người Bắc, hai đứa người Nam, chỉ mình tôi là Huế, khi nhập tiệc thấy nhiều món thịt, nướng, luộc, xào, hầm, đú món thơm ngon, thật thịnh soạn...nhưng khi thấy gia chủ dọn lên những dĩa rau sống laị có lá mơ và củ riềng (trong dân gian gọi lá thú đ..) Thế là chầu nhậu đó tôi chỉ ăn bún với rau chan nước mắm mà thôi. Bây giờ nghĩ lại cũng tiếc thật. Vì ở trên đời mà "không ăn thịt Chó, rớt xuống Âm phủ chỉ ngó, không có mà ăn".
Ngoài ra, các Ông bợm nhậu thường ăn thịt chó cũng kiểu cách tùy theo trời nắng hay trời mưa nữa, ví như: "Trời nắng ăn chó trắng, trời mưa ăn cho vàng".
Loài Chó cũng là loại gia súc, tức là con vật nuôi trong nhà, nhưng nó hơn các loài gia súc khác, vì có bản tánh thông minh và trung thành với chủ, bằng chứng ở Nhựt Bổn hay Anh Quốc có tạc tượng và lập một đền thờ Chó. Bởi vì, nó trung thành với chủ nó cho đến chết. Theo bạn bè kể lại có một gia đình nọ, nuôi một con chó, cứ mỗi buổi sáng ông chủ đi làm, thì con chó cũng đi đưa đến nhà ga xe lửa, đến đúng giờ ông chủ trở về nhà ga, thì được con chó đón từ ga xe lửa để cùng ông chủ trở về nhà. Nhưng một hôm, con chó ra đón ông chủ từ nhà ga để trở về nhà như thường lệ, thì không thấy ông chủ, bởi vì ông chủ đã bị tai nạn tử thương, nhưng con chó không biết ông chủ của nó đã chết, vì vậy cứ mỗi buổi chiều dù trời giá lạnh, nó cũng ra đón ông chủ của nó cho đến chết. Câu chuyện thương tâm của con chó, đã làm cho dân xứ hoa anh đào phải quyên góp tiền để tạc tượng và lập đền thờ cho nó, bởi vì con chó này có tấm lòng trung thành với chủ.
Khi nói đến con chó trung thành với chủ, tôi lại nhớ câu phong dao được truyền tụng trong dân gian mình, xin ghi lại như sau:

" Con không chê Cha Mẹ khó,
Chó không chê chủ nghèo".

Bởi vì, dù con Chó được chủ nghèo nuôi nấn không cho ăn đầy đủ, nhưng nó không bao giờ bỏ đi tìm nơi khác để no ấm hơn. Đó chính là lòng trung thành của Chó.

Tuổi Tuất là con Chó cò,
Nằm khoanh trong lò lỗ mũi lọ lem
Tuổi Tuất được Tam Hạp là : Dần, Ngọ và Tuất. Bởi vì, theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của Ngũ Hành thì : Dần có hành Mộc, Ngọ có hành Hỏa và Tuất có hành Thổ. Như vậy:

DẦN NGỌ TUẤT tam hạp,
THÂN TÝ THÌN tam hạp ...

VIẾT VÀO ĐÊM 29 THÁNG CHẠP NĂM ĐINH DẬU (14 - 2 - 2018)