Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2026

NGÀY TỪ MẪU


Ngày Chủ Nhật thứ hai của tháng Năm là ngày lễ Mẹ, cũng gọi là ngày Từ Mẫu, ngày chúng ta dành riêng để ghi nhớ công ơn của mẹ. Nhân dịp này chúng ta cần xét lại mối quan hệ mẹ con khi mình đã trưởng thành và mẹ đã cao tuổi.

- Khi người mẹ đã cao tuổi và con cái đã bước ra đời, tự lập, mối quan hệ giữa đôi bên là một mối quan hệ rất quý báu. Khi đã đến tuổi tự lập, không phải ai cũng còn mẹ, nhưng chỉ những người may mắn mà thôi.

- Lý do thứ hai khiến tình mẹ con trong giai đoạn này của cuộc đời rất là quý, vì không phải người nào còn mẹ cũng được sống gần bên mẹ. Rất nhiều người dù mẹ còn sống nhưng vì hoàn cảnh gia đình, vì công việc không được ở gần bên mẹ.

- Lý do thứ ba khiến tình mẫu tử khi con đã lớn và mẹ đã già là mối quan hệ quý giá, vì mẹ con đã cùng chia xẻ với nhau bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu buồn vui của gia đình nên dễ cảm thấy gần nhau. Vì cả hai đều là người lớn, đã kinh nghiệm về đời sống nên đây là lúc mẹ con có thể hiểu nhau, thông cảm với nhau và có thể trở thành bạn của nhau.

Lý tưởng là như thế, nhưng chúng ta hãy thử nhìn lại xem mối quan hệ giữa chúng ta và mẹ chúng ta có thật sự tốt đẹp không, đôi bên có hiểu nhau và thông cảm nhau như đáng phải có không? Nhiều người tuy đã lớn vẫn còn được diễm phúc ở gần mẹ, hoặc sống chung dưới một mái nhà với mẹ nhưng bao nhiêu người xem đó là phước hay chúng ta xem đó như là một gánh nặng mình phải chịu đựng. Tình mẫu tử là tình cảm tự nhiên và thiêng liêng, cao quý, là điều mà trong lòng mỗi người luôn phải nhớ. Tuy nhiên, lắm khi chúng ta không cảm nhận được hay không thể vui hưởng tình yêu đó, vì chúng ta sống với nhau bằng tình yêu ích kỷ. Mẹ thương con bằng tình yêu ích kỷ và con cũng đáp lại mẹ bằng tình yêu ích kỷ tương tự.

- Chúng ta thương mẹ và mẹ cũng thương chúng ta nhưng vì bận rộn, vì vô tình, có khi vì ích kỷ, đôi bên không biết được nhu cầu thật của nhau hay những ước mong sâu kín trong lòng. Hơn nữa, mẹ con thương nhau thật nhưng người này cứ muốn người kia làm theo ý mình chứ không chiều ý nhau nên giữa mẹ con thường hay có những đụng chạm vô lý.

- Một lý do khác, sâu xa hơn, khiến giữa người mẹ cao tuổi và những người con đã trưởng thành không có mối quan hệ gần gũi đậm đà, vì có những người mẹ không chấp nhận rằng con mình đã lớn, mình phải đối xử như người lớn, còn con cái thì buồn bực vì cứ bị cha mẹ xem như con nít. Cuối cùng, có những gia đình, cha mẹ và con cái được ở gần nhau, mẹ con gặp nhau thường xuyên nhưng không có mối quan hệ sâu đậm vì đôi bên còn ôm giữ những điều phiền giận trong quá khứ, còn ghi nhớ lỗi lầm của nhau ngày trước và không tha thứ cho nhau.

Cay đắng, buồn giận là thứ thuốc độc giết chết nhanh chóng tình cảm chúng ta dành cho người chung quanh.

Nhân ngày Từ Mẫu, mong những người con đã lớn được diễm phúc có mẹ ở gần cũng như những người mẹ đã cao tuổi còn được ở gần bên con, có thể vui hưởng trọn vẹn tình thương chúng ta dành cho nhau.

Con cái:

  • Đừng xem mẹ như là gánh nặng cho mình đừng bực bội về những thói quen lẩm cẩm hay sự đảng trí của mẹ đừng quên rằng những năm tháng còn mẹ rất ngắn, ngày càng rút ngắn nên cố gắng dành thì giờ cho mẹ, đừng vì công việc, gia đình, con cái hay bạn bè mà quên mẹ, bỏ quên mẹ.
  • Đừng ghi nhớ lỗi lầm của mẹ hay những tổn thương mẹ gây ra cho mình ngày trước. Đừng lợi dụng tình thương của mẹ
  • Đừng nhắc chuyện buồn cũ, nhưng thỉnh thoảng nên nhắc lại công ơn của mẹ, vì công ơn đó rất là lớn lao.
  • Tìm mọi cách để làm cho những năm tháng cuối cùng của mẹ được nhẹ nhàng, an vui
  • Dành thì giờ lắng nghe khi mẹ có điều muốn nói
  • Chăm sóc mẹ, bày tỏ lòng yêu thương, hiếu thảo đối với mẹ một cách cụ thể.
  • Dạy dỗ và nhắc nhở con cái biết yêu thương, kính trọng bà, nói năng lễ độ với bà.
  • Những gì cần làm cho mẹ nên làm bây giờ, khi mẹ còn sống, vì khi mẹ qua đời rồi chúng ta có làm gì cũng quá muộn, mẹ không biết mà cũng không hưởng được.

Mẹ:

  • Hãy nhớ con mình đã lớn, đã có cuộc đời riêng, hãy tôn trọng con: tôn trọng ý kiến, sở thích, cách làm việc của con
  • Đừng xen vào đời sống gia đình con, đừng chen vào giữa vợ chồng con. Khi con đã có gia đình riêng, con là chủ gia đình của mình. Khi cần, cha mẹ chỉ góp ý kiến với con, đừng buộc con phải làm theo ý mình.
  • Đừng la mắng, sửa sai mỗi khi gặp con, đừng xem con như là con nít. Dù đó là con mình sinh ra nhưng bây giờ con đã lớn, đã làm cha làm mẹ, đã khôn ngoan trưởng thành, ta không còn trách nhiệm trên con nữa.
  • Hãy thông cảm với những bận rộn của con; đừng than van, trách móc khiến con có mặc cảm là không tròn bổn phận đối với cha mẹ.
  • Đừng vô tình làm cho con không muốn ở gần bên mình nữa.
  • Nếu đôi bên còn buồn giận nhau, vì những chuyện xưa cũ trong quá khứ, hãy tìm dịp nói ra và tha thứ cho nhau, làm hòa với nhau càng sớm càng tốt, để một ngày kia không phải ân hận vì mình đã không tha thứ cho nhau.

Có lẽ suốt hơn một tuần nay chúng ta nhận được đủ mọi thứ quảng cáo về những món quà con cái nên mua để tặng mẹ nhân ngày Mother’s Day. Mua những món quà đó có lẽ chúng ta chỉ giúp cho người bán hàng được lợi chứ chưa chắc đó là điều mẹ chúng ta đang cần, đang mong ước. Món quà quý nhất chúng ta có thể tặng cho mẹ, và chắc chắn mẹ chúng ta sẽ vui nhận là tình yêu thương chân thành và lòng biết ơn sâu xa của chúng ta đối với công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ. Nếu được, chúng ta hãy viết cho mẹ một là thư, gởi cho mẹ một tấm thiệp hoặc gọi điện thoại nói cho mẹ biết chúng ta yêu mẹ nhiều chừng nào, biết ơn mẹ biết bao nhiêu và xin mẹ tha thứ những khi chúng ta đã làm cho mẹ buồn lòng.

Trong đời sống máy móc và bận rộn này, chúng ta phải đồng ý rằng tặng cho mẹ một món quà vài ba chục bạc dễ hơn là dành cho mẹ vài ba tiếng đồng hồ nghe mẹ kể những chuyện xưa cũ. Tặng quà đắt tiền hay đưa mẹ đi ăn dễ hơn là đến xin lỗi mẹ những điều ta đã làm mẹ buồn. Nhưng, tiền bạc không thể so với thì giờ quý báu ta dành cho mẹ, những món quà đắt tiền không đem lại niềm vui cho mẹ bằng những lời tâm tình yêu thương thành thật của con. Mother’s Day năm nay chúng ta hãy tặng cho mẹ chúng ta những món quà mà người mong ước, để mang lại cho mẹ niềm vui sâu xa, lâu bền mà không tiền bạc nào có thể mua được.

Chúng ta là những người khôn ngoan, biết đâu là giá trị cao quý của đời sống và biết cách cư xử với các bậc sinh thành.

Mạ tôi tóc bạc đã từ lâu

Nhà cũ ngày xưa sống lặng thầm


Sống âm thầm trong ngôi nhà cũ, nơi xa xăm

Bạn hãy ngồi xuống, viết thư cho mẹ

Lá thư mà bạn đã trì hoãn bao năm.

Đừng chờ đến khi bước chân bạn

Quỵ bên cổng nhà quàn

Hãy thưa: Mẹ ơi, con yêu mẹ

Trước khi quá trễ

Khi mẹ đã vĩnh viễn ra đi

Nếu bạn có những lời thương yêu

Đừng chờ đến khi quên

Hãy thì thầm vào tai mẹ

Khi mẹ còn gần bên

Đừng để những lời đó theo đuổi bạn

Vì bỏ lỡ cơ hội làm cho mẹ bình an

Những lời ngọt ngào không nói

Những cánh thư không gởi

Những tình cảm không khơi

Khiến lòng ta tan nát

Vì ân hận không thôi

Hãy thưa với mẹ hôm nay

Con yêu mẹ từng ngày

Trước khi quá trễ

Khi Mẹ đã vĩnh viễn ra đi.

Thứ Ba, 14 tháng 4, 2026

SAU NGÀY 30-4-1975 NGƯỜI DÂN CẢ NƯỚC PHẢI ĂN ĐỘN.


Kể từ 03g00 sáng ngày 10/3/1975, các lực lượng CSBV đã pháo kích 400 quả đạn đủ loại vào khu vực tỉnh lỵ Ban Mê Thuột, đồng thời chúng cũng đã tấn công phi trường dành cho phi cơ L19 tại tỉnh lỵ, Chi Khu Ban Mê Thuột ở kế cận, kho đạn tại 5cs Tây Ban Mê Thuột và ĐPQ ở gần đấy cùng phi trường Phụng Dực tại 7cs Đông tỉnh lỵ Ban Mê Thuột. Hiện khu vực phía Nam thị xã đang bị Cộng quân bao vây. Một số chiến xa của địch cũng đã được ghi nhận.

Tiếp đến chặng đầu tiên trên Liên Tỉnh Lộ 7. Con đường chôn vùi nhiều ngàn xác đồng bào và trẻ thơ vô tội. Và cũng chính là con đường đưa đến sự sụp đổ mau chóng của Quân Lực VNCH, để rồi, mất nước sau đó.!

SAU NGÀY 30-4-1975

NGƯỜI DÂN CẢ NƯỚC PHẢI ĂN ĐỘN.

Tình hình kinh tế VNCH vào cuối tháng 3, đầu tháng 4 năm 1975 bị xáo trộn nghiêm trọng vì chiến sự.

Tính đến 8-04-1975, VNCH đã mất toàn bộ Quân khu I, II và một phần Quân khu III, chỉ còn kiểm soát vùng bắc Sài Gòn và Quân khu IV, tức đồng bằng Mekong.
Chính quyền của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đột nhiên phải đón hàng triệu người tị nạn bỏ chạy về phía Nam sau khi Huế, Đà Nẵng và các tỉnh Cao nguyên và vùng duyên hải rơi vào tay lực lượng Cộng Sản miền Bắc.

Chỉ con số người tị nạn đã ghi tên vào các trại cứu trợ thuộc Quân khu III và IV, ở Bình Dương, Biên Hòa, Bình Tuy, Phước Tuy, Sài Gòn, Tây Ninh, Vũng Tàu, Châu Đốc, Kiên Giang, Kiến Tường, Phú Quốc, Vĩnh Bình và Vĩnh Long, là 356.000 người.
Bên cạnh đó có hàng trăm nghìn người bị mất nhà cửa trong hai vùng chiến thuật 3 và 4 do các cuộc tấn công của CS/BV.

Nhưng kinh tế của phần còn lại mà VNCH kiểm soát vẫn khá vững, ít ra là còn thực phẩm, theo một báo cáo của CIA "The Economic Situation in South Vietnam - March 1975" được giải mật tháng 1 năm 2005.

Tất nhiên, có những bất ổn về tiền tệ: giá vàng và đô la Mỹ tăng mạnh vì lo ngại phải di tản, và Sài Gòn đã mất toàn bộ khu vực kinh tế Cao nguyên, nguồn xuất cảng gỗ, lâm sản và các tỉnh miền Trung, nhưng vụ mùa 1974-75 có thu hoạch cao, và VNCH dư gạo để cung cấp cho quân đội và dân chúng, kể cả người tị nạn CS.

"Sài Gòn vẫn kiểm soát vựa lúa ở đồng bằng sông Mekong, cung cấp gạo cho dân còn do VNCH kiểm soát, gồm cả người tị nạn. Vụ mùa 1974-75 lại bội thu, và các thuyền chở lúa gạo, rau trái tiếp tục cập vào Sài Gòn, không hề bị phe cộng sản ngăn cản. Ngành đánh cá của Nam Việt Nam cung ứng cho Sài Gòn và để xuất cảng, cũng còn nguyên vẹn."

Dù nguồn rau xanh đã mất vì Đà Lạt bị Việt Cộng chiếm, nhưng thịt và cá từ miền Tây vẫn cung cấp đều cho Sài Gòn và các đô thị khác.

Tuy nhiên, phúc trình này đã cảnh báo rằng "nếu phe cộng sản chặn bắt các chuyến vận tải vào Sài Gòn, hoặc chính phủ phải rút quân để bảo vệ thủ đô, thì tình hình có thể không còn tốt như thế".

SAU NGÀY 30-04-1975.

Bức tranh kinh tế của nước Việt Nam do Việt Cộng miền Bắc thống nhất, một hai năm sau khi chiến sự kết thúc lại hoàn toàn ảm đạm và khác hẳn: cả hai miền thiếu lương thực trầm trọng.

Một phúc trình khác của CIA vào tháng 10 năm 1978 nói có ba lý do cho việc thiếu gạo này.

1. Viện trợ, gồm cả gạo của Bắc Kinh cho Hà Nội, để bù vào con số thiếu kinh niên là 800 nghìn tới 1 triệu tấn/năm, bị giảm từ 1974 và cắt hẳn năm 1978.

2. Thu hoạch lúa của cả hai miền Nam và Bắc đều giảm, vì lý do khách quan, như thiên tai (lụt to ở đồng bằng sông Cửu Long), và sâu bệnh.

3. Các chính sách sai lầm nghiêm trọng của nhà nước CS với nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.

Nếu lấy năm 1974, khi hai miền ở hai chế độ khác nhau, so sánh về mặt lương thực của miền Bắc (VNDCCH cũ) là không thay đổi, tức là luôn thiếu thốn, trái ngược hẳn với VNCH.
Sản lượng lương thực, trong đó phần lớn là lúa gạo (chừng 5 triệu tấn/năm), cũng đã luôn thấp hơn miền Nam (VNCH), và trong suốt một thập niên chiến tranh, Hà Nội phải nhập, hoặc nhận viện trợ gạo, lúa mì từ các nước đồng minh XHCN.

Sau ngày 30-04-1975, Tướng Trần Văn Trà nắm chức Chủ tịch Ủy ban Quân quản Sài Gòn - Gia Định của chính phủ Cách mạng Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Hai thành phần VNDCCH và Mặt Trận GPMN thống nhất chính thức vào tháng 7 - 1976.

Vựa lúa VNCH trong khi đó vào năm 1974 đã đạt được 7,1 triệu tấn, một con số kỷ lục.

Ngoài diện tích canh tác lớn hơn miền Bắc, còn có ba lý do để lúa ở miền Nam đạt năng suất tốt: dùng giống thu hoạch cao, phân hóa học, và có máy móc hiện đại hơn.

- Như thế, sản lượng lúa năm 1974 của cả nước là 12,1 triệu tấn (7,1 của miền Nam, 5 triệu của miền Bắc).

- Sau 30-04-1975, sản xuất lúa gạo bắt đầu tụt dốc ở miền Nam.

Giới trẻ với niềm vui ngày 2/09/1976 trên đường phố Sài Gòn đã được đổi tên thành Thành phố HCM

- Việc cắt đứt quan hệ với các nước Phương Tây và tư bản châu Á khiến nguồn phân hóa học không còn, và ngay lập tức năng suất lúa gạo bị giảm.

- Xáo trộn về thị trường vì quản lý kém, khiến sự cung cấp lúa gạo cho đô thị bị ngưng trệ, với chừng 160.000 người Hoa ở Chợ Lớn tìm cách ra đi.


- Việc ngăn sông cấm chợ và lời đe dọa tịch thu ruộng đất, trang trại, vườn rau, do chính quyền mới đưa ra khiến nông dân mất hứng thú sản xuất.

- Chính sách "Kinh tế mới" đem chừng 1,5 triệu người vào các vùng xa đô thị để khai phá, nhằm tăng đất canh tác, có đem lại kết quả về con số.

- Chừng 400.000 hectare đất nông nghiệp được khai phá, nhưng sản xuất không tiến được vì người ta bỏ trốn về thành phố, vì thiếu thiết bị sản xuất, và phân bón.

- Tinh thần làm việc cũng không cao, vì khu kinh tế mới, như lời một nhà báo nước ngoài đến thăm, "không khác gì trại tù Siberia".

- Trận lụt năm 1978 cũng khiến nền kinh tế thêm điêu đứng, sâu rầy cũng phá hoại hoa màu, nhưng yếu tố con người vẫn là chính.

- Năm 1977, cả nước chỉ thu hoạch có 11,2 triệu tấn lúa, thấp hơn kế hoạch nhà nước đề ra 1,8 triệu tấn, và kém chỉ tiêu năm 1976 chừng 800 nghìn tấn.

- Đó là chưa kể miền Bắc vẫn tiếp tục cần tới 1 triệu tấn gạo từ viện trợ bên ngoài mà nay không còn.

Vì thế, không lạ là từ sau 1975, nhà nước tung ra phong trào ăn độn, với bo bo, khoai mì (sắn), và khoai tây được trồng khắp nơi bù vào cơm ăn hàng ngày.

Trong việc này, Việt Nam có thành tích đáng kể, theo báo cáo của CIA.

- "Các loại ngũ cốc như củ mì, bắp và khoai tây đã tăng từ 900.000 tấn năm 1975, lên 1,2 triệu tấn năm 1976 và 1,8 triệu vào năm 1977."

- Một tình trạng gia tăng khác là vào hai năm 1976 và 1977, số gia súc, nhất là heo, bị nông dân giết mổ nhiều hơn...vì không muốn bị nhà nước tịch thu.

- Hậu quả của việc này là sau đó, đàn gia súc miền Nam không phục hồi được, giống như tình hình chung của nền nông nghiệp.

- Căng thẳng với Campuchia khiến chương trình Kinh tế mới và việc khai thác nông nghiệp các vùng xa đô thị bị ngưng trệ, rồi chết hẳn.

- "Các đơn vị quân đội vốn thường được điều động làm phần đầu của công tác xây dựng khu Kinh tế mới như phá rừng, tạo mặt bằng, xây mương cống, nhưng nay phải chuyển ra biên giới, đối mặt chiến tranh với kẻ địch. Những vụ chạm súng sau đó đã phá nhiều khu kinh tế mới ở Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang và Kiên Giang, buộc chính quyền phải giảm bớt chương trình đưa người vào các vùng thưa dân giáp biên với Campuchia..."

- Mô hình kinh tế "XHCN" từ miền Bắc được áp dụng cho cả nước sau 1975. Sau thu hoạch nông dân đóng thuế bằng cách nộp lúa và hoa màu cho hợp tác xã.

- Chỉ tiêu "tự lực về lương thực" cả nước cho năm 1980 đã hoàn toàn tuột khỏi tầm tay của nhà nước.

- Khi các vấn đề của nông nghiệp chưa có hướng giải quyết thì bộ máy cầm quyền CS, đã bắt đầu chuyển tầm ngắm vào các khu vực khác của nền kinh tế.

- Đó là "cải tạo công thương nghiệp" ở đô thị từ tháng 3 năm 1978, áp dụng chế độ tem phiếu ngay cả ở TPHCM và thử nghiệm "hợp tác hóa" ở nông thôn.

- Chỉ trong vòng mấy năm sau ngày 30-4-1975, người dân miền Nam Việt Nam phải chịu mấy đợt gọi là "đánh tư sản", đưa dân đi vùng kinh tế mới. Kèm theo đó là mấy đợt đổi tiền.


ĐÁNH TƯ SẢN

- Đợt đánh tư sản đầu tiên là vào tháng 9 năm 1975 tại khắp các tỉnh thành phía Nam, tịch thu nhà cửa của những dân bị coi là tiểu tư sản, tư sản mại bản và cưỡng bức dân đi kinh tế mới.

- Tháng 12 năm 1978, chính phủ tiến hành Chiến dịch cải tạo tư sản lần thứ hai

ĐỔI TIỀN

- Lần thứ nhất vào ngày 22-9-1975: Ở Miền Nam, đổi tiền của chính quyền Sài gòn cũ bằng tiền Giải phóng theo tỷ giá 500 đồng tiền cũ = 1 đồng tiền mới giải phóng. Có phát hành thêm các loại tiền: 10 xu, 20 xu, 50 xu và 1 đồng, 2 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 50 đồng

- Lần thứ hai ngày 3-5-1978: Thống nhất tiền tệ trong cả nước. Ở miền Bắc đổi từ tiền cũ sang tiền thống nhất theo tỷ giá 1 đồng cũ = 1 đồng tiền mới thống nhất. Ở miền Nam đổi tiền giải phóng sang tiền thống nhất theo tỷ giá 1 đồng giải phóng = 8 hào tiền thống nhất. Có phát hành thêm các loại tiền 5 hào, 1 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 20 đồng, 30 đồng, 50 đồng, 100 đồng.

- Lần thứ ba sáng 14.09.1985, hệ thống loa phóng thanh đường phố loan tin Đổi Tiền.

Sau bao biến cố của lịch sử, đồng tiền mới được thống nhất trên cả nước. Lẽ ra đây sẽ là thời điểm đầu tiên của lịch sử phát triển tiền tệ của đất nước, nhưng đáng tiếc là vì nhiều nguyên nhân, đồng tiền lại rơi vào những thăng trầm mới.

Ngay sau đó do nền kinh tế nói chung còn ở trình độ quá nghèo nàn, lạc hậu lại do những sai lầm trong "cải tạo" các thành phần kinh tế - nhất là cải tạo giới công thương nghiệp miền Nam để áp dụng loại "bao cấp" (giống như ở miền Bắc) trong cả nước nên lạm phát đã liên tục gia tăng. Từ chỗ giá trị đồng tiền mới với đồng Dollar Mỹ (1,25đ/1USD). Đồng tiền NHNN/VN mất giá mạnh so với đồng USD, đến trước ngày đổi tiền tháng 9/1985 tỷ giá giữa đồng tiền NHNN /VN so với đồng USD đã là: 150đ/1 USD”

Ngoài chính sách kinh tế sai lầm thì còn sự thù hằn về mặt chính trị. Con em của những quân nhân hay chính quyền VNCH thì có học giỏi mấy cũng không được vào đại học. Những chuyện đó họ thấy nghẹt thở, nên phải đi tìm tự do, bằng cách vượt biên, vượt biển.
Mấy mươi năm đã trôi qua, hậu quả của các đợt đánh tư sản trong Nam cũng như cải cách ruộng đất ở ngoài Bắc để lại những nỗi đau thương, mất mát cho người dân qua biết bao thế hệ cả về tinh thần lẫn vật chất..

Nhưng đó là cả một câu chuyện dài đầy nước mắt, đau thương tột cùng của người miền Nam, không chỉ là người Hoa ra đi, mà cả người Việt cũng đã bắt đầu tìm cách di tản và trốn chạy khỏi quê hương của mình.

- Tàu đô hộ...người dân chống, không bỏ chạy.
- Pháp đô hộ...người dân chống, không bỏ chạy.
- Nhật cai trị ...người dân chống, không bỏ chạy
- Mỹ và đồng minh vào, không bỏ chạy.
- Nhưng Việt Cộng vào, người Việt sợ phải "vắt dò lên cổ" mà trốn chạy (1954 và 1975)

Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2026

MHỚ THƯƠNG CHA

 


BA MƯƠI HAI NĂM

VẮNG BÓNG BA.

11-2 năm Giáp Tuất

11-2 năm Bính Ngọ


NHỚ VỀ CHA


Đêm về nhin ảnh Mẹ Cha

Lung linh ngọn nến trong nhà rọi soi

Người đi khuất bóng muôn đời…

Mang  mang sầu biệt một trời nhớ thương


Tưởng nhớ về hình bóng cha đã khuất với nỗi nhớ mong của mình, mong tìm lại những ký ức và tin rằng cha vẫn ở cạnh bên bằng cách nào đó, bằng những yêu thương muôn đời vẫn thế, không hề thay đổi.


ĐÊM NAY


Con quỳ gối xin cúi đầu tạ lỗi

Bên ảnh Cha như những lúc con thơ

Cha xoa đầu với ánh mắt thứ tha

Con bật khóc…lòng con đau quặn thắt


Cha muốn khóc nhưng còn gì để khóc

Nước mắt Cha đã khô cạn từ lâu

Chẳng còn chi trong đôi mắt trũng sâu

Chỉ còn lại trái tim Ba nóng hổi


Trái tim ấy luôn ấm tình phụ tử

Bao niềm thương không nói được nên lời

Nỗi nhớ nầy, con mãi khóc thâu đêm...

Xin thứ lỗi Cha một đời gian khổ


Đường Cha đi chông gai để đường con phẳng lặng,

mà sao con …Vấp mãi sai sót trong tim...

Con đã trưởng thành để ngẫm gì sai hay đúng

xin Cha thương mà tha thứ những lỗi lầm.


MỘT CÕI ĐI VỀ


Như thế là xong một kiếp người

Đất chừng ba tấc phủ Ba tôi

Cỏ xanh lấp kín mồ không thấy

Nỗi nhớ rồi đây hẳn sẽ phôi


Bởi sống cỏi trần nơi tạm gởi

Vãn sanh nơi chốn đặng bình an

Cha nay được Tổ ban phần thưởng

Lên cõi, con dâng một nén nhang


Cầu mong Cha được, hồn siêu thoát

Để hưởng an vui chốn cửu trùng

Tán tụng muôn đời dày đức độ

Ngợi khen trọn kiếp Đấng toàn năng


Mong Cha qua khỏi nơi cay đắng

Sưởi ấm hồn Cha hết giá băng

Choáng ngợp thiên thu vùng ánh sáng

Hào quang chiếu tỏa thật công minh…


NHỚ CHA


Chậm thôi nhé.! Thời gian trôi nhanh quá.!

Nhuộm tóc Cha thêm trắng bạc nữa rồi

Từng nếp nhăn là mỗi chặng đường đời

Vai nặng gánh nên lưng còng trĩu xuống


Lòng ray rứt với muôn ngàn nổi nhớ

Nổi nhớ Cha tim con chớm nhói đau

Ngày đầu tiên đến lớp quãng đường xa

Cha vội cõng sợ đi lâu con mỏi


Và cứ thế thời gian trôi qua vội

Nay chân con vững chãi bước đường dài

Chỉ lo Cha chân yếu lại run tay

Mà phải chống phải chèo vì cuộc sống


Cha luôn phải thương con nên cố gắng

Để mong con luôn được sống bình an

Như thế thôi là Cha mãn nguyện rồi

Chẳng ngại khổ để cho con no đủ


Đời là biển Cha là thuyền trôi nổi,

Đưa con đi đến những bến bờ xa

Đến những nơi cuộc sống thắm màu hoa

Chưa đến đích nên khiến Cha gắng sức


Cha là đất con mầm non mới chớm

Con vương lên nhờ mạch sống của Cha

Cha đã mang bao vị ngọt phù sa

Để vun bón thân con dần cứng rắn


Cha dìu dắt con đi vào cuộc sống

Ban cho con nghị lực sống hơn người

Dạy cho con kinh nghiệm sống vào đời

Với tất cả những gì đời Cha biết


Một đời chỉ... Vì con Cha không tiếc

Sống cho con Cha mải miết hy sinh

Bao công lao bậc dưỡng dục sinh thành

Làm sao trả, ơn Cha cao hơn núi


THIẾU CHA


Mai sớm chiều trưa, luống thẫn thờ,

Ra vào yên ắng lặng im hơi

Thư phòng vắng ngắt bên chồng sách

Nghiên bút ơ hờ thiếu bóng ai.?

Hình bóng dáng ai? Nay thiếu vắng

Mơ hồ êm ả giọng trong mơ.!

Vườn sau ngõ trước hương còn đượm,

Buồn nhớ Ba đi chẳng trở về.


MƠ VỀ CHA


Giấc mộng đêm thâu đẫm lệ sầu

Chập chờn mơ thấy bóng Cha đâu?

Đèn trăng héo hắt len song vắng

Soi ảnh Cha xưa giấc tỉnh mê

Đất nước đổi thay từ dạo ấy.

Đầm đìa không ngớt lệ thương đau

Mùa đông sáng tối không còn nữa

Mạ khóc...Ba đi...Tiếng vỡ òa


Cha đã ngàn thu tách biệt rồi

Từ nay con nhận nỗi sầu thôi

Hoàng hôn phủ xuống đời riêng lẻ

Thương nhớ chìm trong ngấn lệ rơi


Thương Cha tình khắc thâm sâu

Biết tìm đâu gặp… Đến khi bạc đầu.!


TÌNH PHỤ TỬ


Tình phụ tử, lòng con luôn ghi nhớ

Cha mãi là ngọn gió mát dịu êm

Ánh sáng Cha đường soi lối bình yên

Núi che bóng trên mọi miền đất nước

Khắp vạn nẻo, đường đó đây thông suốt 

Đưa con đi Cha chọn lối cho con

Hướng vào dòng, sông nước chảy êm xuôi

Làm tươi mát cho cuộc đời quyến luyến.


THÂM SÂU


Thâm tâm sâu kín giữ lòng nhau

Tình cảm ăn sâu đượm thấm màu

Nghĩa đạo hữu duyên đời trọn kiếp  

Nặng lòng mặc khách với tao nhân

.

BA MƯƠI HAI NĂM

VẮNG BÓNG BA.

11-2 năm Giáp Tuất

11-2 năm Bính Ngọ


Mườ mộ̣t tháng hai, năm Bính Ngọ

Nắng Xuân xa xứ nóng khô da

Lại nhớ dáng Cha, mùa Xuân trước

Ngày xưa  vui quá vẫn còn Cha


Một đời cha, luôn khó nhọc nâng niu

Nuôi khôn lớn dạy con điều phải trái

Tiếng cười nói với lời ru của mạ

Đất nảy mầm... Đàn con cái lớn khôn.!


Gió thoảng đưa, thời gian chóng trôi qua

Con gục mặt nhớ về Cha đã khuất

Xin khấn nguyện chỉ một điều duy nhất

Vẫn yêu cha và luôn mãi không phai.


Tuổi trẻ qua, thời bồng bột... Đổi thay

Nhờ những chặn của những ngày thử thách

Khi hiểu rõ... Không một lời than trách

Nghĩ về Cha, đã tẩy sạch đời con.


Thứ Tư, 18 tháng 3, 2026

HẠNH PHÚC QUÀ BỐN MÙA,!

 


NGÀY HẠNH PHÚC


Sợi nắng ban mai lúc rạng đông
Bao la trời đất nhuộm tươi hồng
Hai ta kế cận bên đồi mộng
Nhìn ngắm mây trời khoảng trống không.


Nắm tay bước nhịp thật thanh nhàn
Làn gió thông reo họa khúc vang
Rực rỡ yêu đương tình xán lạn
Gió mây sánh hội phải xênh xang.


Bên nhau ta thấy ngọt thơm ngào
Chim hót hòa vui thắm xuyến xao
Trời đất cách nhau đầy mộng ảo
Đông sang xuân đến nở hoa Đào.


Ngời trong mắt biếc tựa như ngà
Môi miệng em cười lúc nở hoa
Âu yếm nhìn anh đôi má ửng
Hai ta mãi mãi chẳng rời xa.

"Quà bốn mùa" thường tượng trưng cho hạnh phúc trọn vẹn, bình yên qua mọi thăng trầm thời gian Xuân Hạ Thu Đông.

Đó là sự yêu thương bền chặt, chia xẻ kỷ niệm, và cảm nhận vẻ đẹp cuộc sống trong từng khoảnh khắc. Hạnh phúc đích thực không xa xôi mà nằm trong sự bình lặng của tâm hồn khi đi qua đủ 4 mùa.


QUÀ BỐN MÙA,!


Người đã cho đời những áng thơ
Tình yêu thương mến thật vô bờ
Mùa Xuân chớm nụ cho đời sống
Ý ngọc lời vàng quả thực mơ


Hạ đi bịn rịn người còn lại
Đêm nhớ ngày trông, ngóng đợi chờ
Người cảm mến hè luôn nhớ mãi
Vì còn trân quý những vần thơ


Thu nầy nắng gió thổi heo may
Dáng cũ yêu thương chẳng tách rời
Nắng gởi cho hồn ru tiếng hát
Nhớ về Thu ấy gió vờn mây


Thu đến, thu đi Đông lại tới
Mang theo cơn lạnh héo khô gầy
Phố nhỏ giờ đây còn vắng vẻ,
Nét buồn điểm nhẹ chín tầng mây.


Nhớ thương một thủa đong đầy,
Hàng mưa nắng tỏa còn đây nỗi lòng.
Xa đông phố núi bao lần,
Bỗng dưng lại thấy bần thần nhớ đông.


Trời rét mướt, Đông về nhóm sưởi,
Hàng cây gầy lạnh cánh tay trơn,
Chiều nắng tắt mây mờ tuyết phủ,
Khúc tình buồn lạnh cóng trơ gan.