Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2016

KHU VƯỜN PHẬT GIÁO TẠI NGHĨA TRANG ENFIELD CỦA ADELAIDE ÚC CHÂU


Nghĩa trang đầu tiên dành cho các gia đình Phật tử ở Nam Úc đã ra đời tại Nghĩa trang Enfield của Adelaide, mang tới cho cộng đồng Phật giáo địa phương thêm một sự lựa chọn về nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh.
Adelaide Cemeteries-14_resize
Ảnh: Adelaide Cemeteries Authority
Vào ngày 3 Tháng 4 vừa rồi, hàng trăm Phật tử và khách thập phương đã tới tham dự lễ khánh thành khu vườn Phật giáo – cũng là nơi ngự trị của tượng Phật cao 4m.
Buổi lễ đã được tổ chức long trọng với sự có mặt của Vị Toàn quyền tiểu bang Nam Úc, ông Lê Văn Hiếu, cùng nhiều vị hòa thượng, tăng ni tới trồng cây và ban phước, cầu ước cho khu vườn trở thành một mảnh đất linh thiêng thuần khiết.
Tổng giám đốc điều hành (CEO) của Adelaide Cemeteries Authority – cơ quan chuyên trách nghĩa trang ở Adelaide – ông Robert Pitt nói khu vườn Phật giáo mới này sẽ đáp ứng nhu cầu về mai táng của cộng đồng Phật giáo trong tiểu bang.
Adelaide Cemeteries-03_resize
Ảnh: Adelaide Cemeteries Authority
Tuy nhiên, ông cũng nói dịch vụ an táng ở đây dành cho bất kỳ ai, không phân biệt tôn giáo hay chủng tộc.
“Cộng đồng Phật giáo ở Nam Úc từ lâu đã mong muốn có một khu vực mai táng riêng cũng là một nơi đặc biệt để người thân tưởng nhớ những người đã khuất, vì thế Adelaide Cemeteries Authority rất vui là có thể giúp cộng đồng làm được việc này,” ông Pitt nói.
Nghĩa trang Phật Giáo đầu tiên của Nam Úc dựng một tượng Đức Phật A Di Đà cao 4m, có 115 vị trí mai táng, kể cả nơi có mái vòm và 280 vị trí dành cho hỏa táng.
Adelaide Cemeteries-09_resize
Ảnh: Adelaide Cemeteries Authority
“Chúng tôi đã làm việc cùng hội Phật giáo trong suốt 2 năm qua để kiến tạo lên một khu vườn nằm trong Nghĩa trang Enfield. Việc này cũng bảo đảm chúng tôi tạo nên một thiết kế gắn liền với truyền thống và văn hóa, bao gồm cả những vật khá đặc biệt như bát cắm hương và bàn hương án để thực hiện các nghi lễ của Đạo Phật.
Ngoài ra, còn có một khu vực đủ rộng để cho các gia đình tụ tập tưởng nhớ người đã khuất cũng như những khu vực kín đáo dành cho những nghi lễ riêng tư hơn.
Ảnh: VIET MAGAZINE
Ông Pitt cũng nói cộng đồng sẽ tham gia trồng các cây Bồ đề tại đây và một con đường đã được xây bao quanh khu vườn để giúp cho lễ rước tang có thể tiến hành đi quanh tượng Phật 3 lần trước khi mai táng theo như phong tục tang lễ của Đạo Phật.
Cũng theo Adelaide Cemeteries Authority, điểm nhấn của khu vườn là tượng Đức Phật di đà cao 4m. Tượng này được làm bằng đá cẩm thạch xám và được tạc ở Việt Nam trước khi đưa qua Adelaide.
                  Adelaide Cemeteries-20_resize
Ảnh: Adelaide Cemeteries Authority
Tôn trí tượng Phật cũng được nghiên cứu cẩn thận, để bảo đảm mặt ngài nhìn về hướng tây ra phía bờ biển của thành phố trong khi ngài vẫn bao quát được các khu vườn đối xứng xung quanh.
Nhiều người trong cộng đồng Việt Nam tại Nam Úc đã có mặt tại buổi lễ khánh thành và chia sẻ với VIET MAGAZINE những cảm xúc đặc biệt này.
Ảnh: VIET MAGAZINE
Ảnh: VIET MAGAZINE
Anh Hiếu Nguyễn, một Phật tử sinh sống tại Adelaide nói: “Sự ra đời của nghĩa trang Phật giáo và đặc biệt tượng Phật làm cho những Phật tử như chúng tôi cảm thấy yên tâm hơn với cảm giác được đất Phật che chở và bảo vệ, giúp đỡ những người thân đã mất được đi về miền tây phương cực lạc.
“Tượng Phật được dựng lên với sự khai quang của các vị cao tăng Phật giáo đọc kinh chú đại bi và bát nhã tâm kinh góp phần làm cho tượng Phật thêm linh thiêng và giúp cho những người sống thêm tin vào Đức Phật.”
Chị Phương Nguyễn làm việc trong lĩnh vực bất động sản tại Adelaide dù là tín đồ Công giáo cũng đến tham dự buổi lễ.
“Một điểm đặc biệt ấn tượng với tôi là buổi lễ rất long trọng. Và như lời phát biểu của nhà tổ chức, đây không chỉ là nơi dành riêng cho cộng đồng Phật giáo, mà cho bất kỳ ai có nhu cầu, nên tôi tin nơi đây sẽ đón tiếp nhiều người trong các cộng đồng tín ngưỡng khác tham gia,” chị nói.
                  Adelaide Cemeteries-07_resize
Ảnh: Adelaide Cemeteries Authority
Người phụ trách xây dựng và quản lý khu vườn, ông Robert Pitt không giấu được niềm vui khi chia sẻ về thành quả của công trình.
“Đây là đặc ân của chúng tôi khi tạo ra một nơi đặc biệt cho cộng đồng Phật giáo,” ông Pitt nói.
“Khu vườn là minh chứng về cam kết của chúng tôi trong việc tham gia vào các việc làm có ý nghĩa cho cộng đồng và cũng để giúp cho tất cả các nhóm văn hóa và tôn giáo có một nơi để tụ tập và tưởng nhớ.”
phat giao 3_resize
Ảnh: VIET MAGAZINE

Thứ Năm, 14 tháng 4, 2016

HUNGARY KHUYẾN KHÍCH SINH CON ĐỂ ĐỐI PHÓ NẠN SUY GIẢM DÂN SỐ



Hungary

Republic of Hungary

Europe

Geography

Area: 93,030 sq km
A landlocked, central European state on the River Danube.
Population: 9,973,141 

Từ trung tuần tháng 12/2015, chính phủ Hungary đã đưa ra một chính sách mới nhằm khích lệ và hỗ trợ cho các gia đình có đông con, từ ba con trở lên. Chính sách này được thủ tướng Viktor Orban xem như là một ưu tiên tuyệt đối từ đây cho đến kỳ bầu cử quốc hội năm 2018.

Báo chí Pháp cho rằng ngay từ đầu cuộc khủng hoảng người tị nạn, mà theo chính sách bảo thủ được tiến hành từ năm 2010 của chính phủ hiện nay dường như cũng nhằm đối phó với đường lối phân phối người tị nạn do Liên Hiệp Châu Âu đề xuất .


Người dân có được hàng chục triệu bằng cách sinh nhiều con
Mang tên Trợ cấp Xây dựng mái ấm Gia đình, viết tắt là CSOK (đồng âm với từ “nụ hôn” trong tiếng Hung), đây có lẽ là đề tài xã hội được người dân Hung quan tâm nhất trong mấy tháng nay, đặc biệt là trong những ngày này, khi chính phủ đã hợp thức hóa sự hỗ trợ này trong thực tế bằng việc liên tục điều chỉnh các luật định có liên quan.
Đó là một trong những nhan đề thường thấy trên báo chí Hung, hoặc trong trao đổi trên các mạng xã hội, diễn đàn Internet về hình thức trợ cấp mới này. Nói một cách ngắn gọn, gia đình nào sinh từ ba con trở lên, khi mua nhà sẽ được Nhà nước “tặng” 10 triệu Forint (Ft), và cho vay với phân lời ưu đãi (dưới 3% hàng năm) trong vòng 25 năm, được thêm 10 triệu Ft nữa.
Ngoài ra, để giảm phần nào thuế khóa cho các cặp vợ chồng khi mùa  nhà, bắt đầu từ năm nay, thuế giá trị gia tăng đối với những căn nhà mới có diện tích lớn, khi chuyển giao sẽ được giảm từ 27% xuống còn 5%. Nếu tự xây, các gia đình cũng có thể yêu cầu nhận lại một phần khoản thuế giá trị gia tăng này, tối đa là 5 triệu Ft theo những quy định mới.
Trong chiến dịch tuyên truyền của chính quyền, chính sách hỗ trợ sinh nở mới này đơn thuần được hiểu như thể các gia đình có từ ba con trở lên sẽ được ủng hộ 25 triệu Ft (tức là hơn 83 ngàn Euro), tuy rằng trong đó chỉ có 10 triệu Ft (hơn 33 ngàn Euro) là tiền “cầm tay”. Dầu vậy, đây cũng là một khoản tiền rất lớn đối với thường dân Hung.
Đáng lưu ý ở đây là sự hỗ trợ này không chỉ dành cho những gia đình đã có ba con, mà nó được áp dụng nói chung với cả những gia đình cam kết rằng trong vòng 10 năm sẽ sinh nở ba con. Trong trường hợp không thực hiện được cam kết này, họ sẽ phải trả lại khoản hỗ trợ, nhưng cụ thể như thế nào, với những điều kiện ra sao, thì vẫn đang bàn bạc.
Đương nhiên, muốn tham gia chương trình CSOK - và tận dụng triệt để những ưu đãi của chính phủ, cần hội đủ một số điều kiện khác nữa, mà một trong những điều kiện tiên quyết là cặp vợ chồng phải dưới 40 tuổi. Dầu sao, đây cũng là một trong những chính sách rất được quan tâm của nội các cánh hữu của Hung, và là đề tài “chuyền miệng” của nhiều gia đình.

Nỗ lực ngăn chặn sự suy giảm dân số
Nếu chỉ nhắc tới khoản tiền “cầm tay” do Nhà nước tặng - hơn 33 ngàn Euro - khi có đứa con thứ ba, thì đây cũng là khoàn tiền lớn, có thể bằng thu nhập trung bình của một người lao động bình thường trong một năm. Trong khi đó, Hungary là một nước nghèo ở Châu Âu. Câu hỏi đặt ra là lý do gì khiến chính phủ Hungary ra một quyết định “táo bạo” như vậy?
Liên minh cầm quyền của Hungary theo xu hướng Dân chủ Thiên Chúa giáo, nên một trong những phương hướng phát triển mà họ luôn quảng bá, là hỗ trợ các gia đình sinh con đẻ cái, tạo dựng cơ hội để người dân có mái ấm gia đình, công ăn việc làm, v.v... Đây là một phần đáng kể trong khẩu hiệu “Những cải cách của Hungary thực sự hiệu quả” của chính quyền.
Bên cạnh đó, giới lãnh đạo cánh hữu của Hungary - kể cả các nhân vật thượng đỉnh như Chủ tịch Quốc hội và một số quan chức cao cấp khác - trong các phát biểu thường hay nhấn mạnh thiên chức sinh con đẻ cái của người phụ nữ - cho rằng đó là nhiệm vụ đẹp đẽ và cao cả hàng đầu của phái đẹp - bất chấp việc công luận có thể coi đó là sự phân biệt đối xử.
Vì vậy, chính sách hỗ trợ sinh đẻ mới này được coi là một quyết định lớn theo chiều hướng giúp đỡ các gia đình, và là một bước tiến mới trong việc thu hút sự ủng hộ của cử tri cho liên minh
cánh hữu, thời gian gần đây gặp nhiều bê bối trong nội bộ. Tuy nhiên, về lâu dài, nó là kế sách để cân bằng phần nào sự suy giảm dân số đã kéo dài từ nhiều năm nay tại Hungary.
Trong khi, quốc gia ở vùng Trung Âu này nổi tiếng là khắt khe trong việc nhận người di cư nói chung, và tỵ nạn nói riêng. Hàng năm, Hungary chỉ nhận vài trăm người tỵ nạn, tỷ lệ người tỵ nạn ở Hung được coi là thấp nhất trong toàn Liên Âu. Trong làn sóng tỵ nạn năm ngoái, gần 400 ngàn người luân chuyển ở Hungary, nhưng con số ở lại xin tỵ nạn cũng chỉ vài trăm.

Thảm họa dân số
Đi vào cụ thể, đầu thế kỷ 20, Vương quốc Hungary có chừng 19 triệu dân, và là nước đông dân số nhất trong Nền quân chủ Áo - Hung. Năm 1920, do bị mất hai phần ba diện tích lãnh thổ do Hiệp ước hòa bình Trianon, Hungary chỉ còn lại chưa đầy 8 triệu dân. Trong vòng 40 năm sau, do chiến tranh và loạn lạc, dân số Hung chỉ tăng thêm gần 2 triệu người (gần 10 triệu).
Năm 1960 được coi là một năm “bản lề” xét trên góc độ dân số, vì tính từ đó cho đến nay, trong vòng 55 năm, dân số Hung gần như “dậm chân tại chỗ” ở mức trên dưới 10 triệu người. Đặc biệt, từ năm 1981 tới nay, dân số Hung hoàn toàn đi xuống, và tới năm 2011 thì về lại trạng thái trước đó 50 năm. Dân Hung ít sinh nở, tỷ lệ người cao tuổi tăng, số người lao động ít.
Thống kê những năm gần đây cho thấy, chỉ chừng một phần ba dân số Hung là lao động đóng thuế, nghĩa là một người lao động phải lo cho mình và hai người khác. Hệ thống bảo hiểm xã hội - bảo hiểm sức khỏe và hưu trí - của Hungary hoạt động rất ọp ẹp, và hoàn toàn có khả năng sụp đổ nếu tình trạng sinh nở của dân Hung trong những thập niên tới vẫn không thay đổi.
Thêm vào đó, việc đóng cửa trước di dân nước ngoài càng khiến Hungary phải đứng trước một thảm họa dân số, như nhận định của giới chuyên môn cho thấy. Theo một tính toán vào mùa hè năm ngoái, nếu không tiếp nhận di dân, tới năm 2080, dân số Hung sẽ giảm gần 30% so với hiện tại, tức là chỉ còn chưa tới 7 triệu người, bằng con số cư dân của... 160 năm trước đó.
Về mặt xã hội và văn hóa, việc thuyên giảm dân số ở mức đáng kể như vậy sẽ ảnh hưởng tới sắc thái, nền văn hóa và ngôn ngữ Hungary. Bên cạnh đó, về mặt kinh tế và tài chính, chính quyền Hungary sẽ gặp vấn nạn về sự chi trả các khoản nợ quốc gia, cũng như sẽ không biết phải xoay xở ra sao, với hệ thống bảo hiểm, hưu trí cho người ở độ tuổi hưu.

Chính sách mới liệu có hiệu quả?
Các nghiên cứu xã hội học và kinh tế cho rằng, về mặt ngắn hạn, khuyến khích nhập cư (ví dụ cho phép đa quốc tịch) có thể giải quyết một phần khía cạnh tài chính của vấn đề. Tuy nhiên, mặc dù Hungary đã nới rộng luật định cho vài triệu người gốc Hung ở nước ngoài có thể dễ dàng nhập tịch, nhưng con số di cư sang Hung sinh sống không tăng ở mức đáng kể.
Đối với người tỵ nạn, từ hơn một năm nay chính quyền Hung bảo thủ quan điểm cho rằng họ là những thành phần hủy hoại nền văn hóa và sắc thái Hung, gây bất ổn cho an ninh Hung và cướp công ăn việc làm của người Hung, nên việc Hung tiếp nhận họ là điều bất khả thi. Còn lại khả năng khích lệ và hỗ trợ sinh nở, cho dù giới nghiên cứu, tỏ ra hoài nghi về hiệu quả của nó. 
Bởi lẽ, những công trình mới đây cho thấy, việc dùng những biện pháp tài chính để thúc đẩy sinh nở chỉ khiến số trẻ em được chào đời tăng ở mức ít ỏi, hơn nữa, sự tác động kiểu ấy phải rất lâu mới đạt được ảnh hưởng như ý. Thăm dò cư dân Hung về sự hưởng ứng của họ đối với chương trình CSOK này, nhiều người cho rằng nó không được hữu hiệu như mới thoạt tưởng.
Bởi lẽ, những ai không muốn sinh con, thì cũng ít khả năng là do được một khoản tiền lớn mà họ sẽ sinh nở. Thêm một đứa con là thay đổi hẳn cuộc sống, sự nghiệp và công việc của một cặp vợ chồng, và dù thiếu thốn đi nữa, thì vấn đề sinh nở nhìn chung không hẳn là chuyện tài chính, mà còn liên quan tới nhiều yếu tố xã hội khác như nuôi dạy trẻ, giáo dục, y tế, v.v...
Chừng nào những dịch vụ công thiết yếu như giáo dục và y tế ở Hung còn gặp nhiều khó khăn và bất cập như hiện tại, chừng nào một tỷ lệ lớn giới trẻ - và nói chung những ai ở độ tuổi lao động - đều muốn ra nước ngoài làm việc (Hung hiện tại có vài trăm ngàn người làm việc ở Tây Âu), thì khi đó “cảm hứng sinh nở” vẫn còn khó khăn, cho dù đã được Nhà nước tạo điều kiện...

Chủ Nhật, 10 tháng 4, 2016

LÀNG JOSEPH (XÓM ĐẠO HOUSTON, TEXAS


Căn phố của ông bà Tuyên nằm ngay cuối dãy, nhìn ra con kinh thoát nước.  Xa xa là những căn nhà chọc trời của Houston. Tháng Sáu, Houston mưa nhiều như Sàigòn. Mưa rào, ào xuống rất nhanh và ngưng lại cũng rất nhanh, y hệt mưa Sàigòn. Nước con kinh dâng cao, chảy xiết như một dòng sông nhỏ ngay sát căn chung cư của ông Tuyên. 


Năm 1975, dân tị nạn Việt Nam được phân tán trên khắp nước Mỹ, nhưng chỉ vài năm sau đó, nhiều người dần dần rời bỏ các nơi lạnh lẽo, về lập nghiệp tại hai tiểu bang California và Texas.  Có lẽ vì khí hậu ấm áp rất giống Sàigòn, nên Houston trở thành một trong những thành phố có đông người Việt Nam cư ngụ.
Ông Tuyên chế thêm trà vào tách cho bạn, từ từ tiếp câu chuyện:
-  Bác biết không, chúng tôi nhờ ơn trên mới có được căn chung cư này. Đời sống dân tình ở đây thuần hậu lắm, giống như xóm đạo mình ở Biên Hòa ngày xưa đó.
Vừa lúc đó bà Tuyên đi ra, chào:
-  Bác Chương ngồi chơi với Bố cháu, tôi đi ra nhà nguyện.
Ông Chương hơi ngạc nhiên:
- Nhà nguyện?

Hiểu được ý khách, ông Tuyên từ tốn trả lời:

-  Bác ngạc nhiên là phải.  Để tôi kể chuyện cho bác nghe.
Nhấp một ngụm trà, ông Tuyên nói tiếp:
-  Lúc mới vào cổng khu chung cư này, Bác có thấy gì không?
-  Làng Joseph phải không? Tôi cũng hơi thắc mắc mà chưa có dịp hỏi.
-  Đúng đấy bác ạ, khu chung cư này là một làng đạo Việt Nam. Ngay giữa Houston mà có một làng đạo ViệtNam, thế mới đặc biệt chứ. 
Ông Tuyên trả lời, rồi tiếp:
-  Chuyện thế này, khoảng năm 1985, 1986 gì đó, tôi cũng không nhớ rõ lắm, lúc đó kinh tế Houston bị khủng hoảng vì giá dầu thô giảm rất thấp. Từ lâu, Houston vẫn có biệt danh là Thủ Đô Dầu Hỏa, vì hầu hết các hãng dầu hỏa lớn trên thế giới đều có trụ sở ở đây. Chính vì vậy mà khi giá dầu xuống quá thấp, thì kinh tế Houston suy sụp nặng nề. Trước đó, nhờ kỹ nghệ dầu hỏa thịnh vượng, bà con mình làm ăn khá, mua nhà, mua cửa đẹp đẽ. Khi dầu hỏa xuống giá thì dân Houston rất khốn đốn, nhiều người bị thất nghiệp nên không đủ tiền trả nhà băng.
-  Tôi nghe nói hồi đó bà con mình bị phá sản, bỏ nhà cho không các hãng nợ?
-  Đúng vậy, Ai may mắn thì có người vào ở nhà mình, tiếp tục trả món nợ cho nhà băng thì khỏi bị phá sản hay bị điểm xấu vì chạy nợ. Không phải chỉ có tư nhân mới bỏ nhà chạy nợ đâu, những chủ của các khu chung cư cũng vậy. Không có người thuê, chủ nhân các khu chung cư cũng bỏ hoang luôn và nhà băng tịch thu mang ra bán đấu giá.

Ông Tuyên chậm rãi, tiếp:

- Trong dịp này, một vị linh mục, cha Chỉnh, đã đứng ra gây quỹ mua luôn một khu chung cư, rồi bán lại cho đồng bào từng đơn vị gia cư. Tôi không biết chi tiết việc này ra sao vì tôi đến sau, nhưng chỉ nghe được là Cha đã mua được với giá rẻ lắm. Lúc đó các căn chung cư dơ bẩn và xập xệ lắm vì đã bỏ trống một thời gian dài không tu bổ. Người mua phải tự sửa chữa lấy, nhưng cũng còn quá rẻ so với giá bình thường.
-  Không biết giá cả như thế nào bác nhỉ?
-  Tôi nhớ lúc đầu, căn một phòng ngủ chỉ chừng năm ngàn đô, căn hai phòng ngủ chừng tám hay chín ngàn gì đó, tùy theo tình trạng, chỉ cần sửa thêm một vài ngàn nữa là mình có một căn chung cư rất khang trang.  Cũng nhờ cơ hội này mà nhiều người ở thuê, ở mướn, được có dịp làm chủ một căn nhà.  Sau đó dưới sự sắp đặt của quí cha, chung cư được tổ chức lại thành Làng Joseph.
Nhắp thêm ngụm trà, ông tiếp:
-  Quí cha giữ lại vài căn, cho người sửa chữa, làm Nhà Nguyện chung cho cả làng, từ đó có Nhà Nguyện. Mỗi ngày cứ khoảng 5 giờ chiều, có tiếng chuông nhắc bà con giờ cầu nguyện, thật là dễ thương và cảm động.  Mỗi lần nghe chuông, tôi lại nhớ những ngày còn ở xóm đạo Biên Hòa. Tôi thích ở đây là vì thế.
-  Ồ, thú vị quá nhỉ ! Thế ở đây có nhà thờ không, Bác?
-  Ngay trong Làng thì không có nhà thờ, chỉ có nhà Nguyện. Nhưng nhà thờ Mỹ thì cũng không xa đây. Hồi nãy mình có đi xe ngang qua đó, cách đây chừng năm phút đi bộ.  Chủ Nhật chúng tôi vẫn thường đi bộ ra nhà thờ Mỹ. Nói là nhà thờ Mỹ nhưng các cha người Việt mình có giờ thánh lễ cho giáo dân Việt Nam.  Mai tôi mời bác cùng đi lễ với chúng tôi. Nhà Nguyện là nơi chúng tôi tĩnh tâm hằng ngày, lúc nào cửa cũng mở cho bà con trong làng. Các cụ lớn tuổi hay ra đây cầu nguyện lắm, vì gần, không cần phải nhờ con cháu đưa đón.
-  Đời sống như vậy thật là an bình bác nhỉ?
-  Để tôi kể bác nghe. Tuy là tiện như vậy nhưng nhiều người cũng không thích ở đây lắm vì đời sống ở đây rất bình dân và có lẽ “quá” Việt Nam. Tôi thì quen rồi, đâm ra thích. chắc tại mình già rồi. Chứ ai mà quá quen với đời sống Mỹ có lẽ  thấy khó chịu.  Căn phòng của chúng tôi ở cuối làng nên rất yên tịnh.  Những căn ở giữa thì hay bị ồn ào hơn.
-  Tôi có để ý lúc mới đến. Bà con mình ngồi ca hát trước cửa nhà vui ghê.
-  Đúng rồi bác. Ở đây nhiều lúc giống hệt xóm lao động bên Sài-Gòn mình.  Nhiều khi mình nghe một lúc hai, ba đài radio, cộng thêm TV Mỹ và nhạc CD hay có người còn hát Karaoke nữa. Cũng có lúc, bà con mình mang máy ra ngoài cửa để dễ bắt đài, hoặc là không đóng cửa, thì mình cũng nghe được luôn.

Ông Chương góp ý:

-  Bác làm tôi nhớ hồi ở Sàigòn, các đài phát thanh thường khuyến cáo thính giả “vặn âm thanh vừa đủ nghe, kẻo làm phiền lòng hàng xóm.”
-  Bác nói đúng. Hồi mới đến ở, tôi cũng hơi khó chịu. Sống trong chung cư Mỹ mình quen lề lối của họ, tôn trọng đời sống riêng tư của người khác tối đa. Thú thật với bác, hồi ở chung cư Mỹ, tôi không biết hàng xóm mình là ai, thậm chí chả biết họ là đàn ông hay đàn bà nữa, vì có mấy khi gặp gỡ chào hỏi gì đâu.  Sáng đi làm, tối về đóng cửa, rút vào đời sống gia đình, không ai quan tâm đến ai, không ai làm phiền rộn gì ai.  Sống như vậy buồn lắm. Trong chung cư này thì khác, bác ạ. Hình như ai cũng biết ai, không muốn biết cũng tự nhiên biết. Chào hỏi thân thiết như bà con.
-  Nếu vậy thì thật là tốt cho người lớn tuổi, phải không bác?
Ông Tuyên bùi ngùi:
-  Vâng, đúng vậy.  Tôi nhớ hồi mới qua Mỹ, mẹ tôi đã già, ở trong chung cư Mỹ, bà như một người câm, vì không có ai nói chuyện cho khuây khỏa. Tụi tôi đi làm tối ngày, các cháu thì đi học.  Bà Nội các cháu vì nhớ nhà, nhớ Sàigòn, cứ thui thủi một mình thật tội nghiệp.  Có lẽ vì vậy mà Mẹ tôi mất sớm, chỉ mới ở Mỹ có ba năm thôi bác. Có lẽ Mẹ tôi mất sớm như vậy vì buồn bác ạ. Tôi nghĩ nếu hồi đó, có một nơi như vậy thì có lẽ Mẹ tôi vui lắm và còn sống thêm.

Ông Chương góp chuyện:
-  Có lẽ cộng đồng Việt Nam mình cần có nhiều chung cư như Làng này, bác ạ. Tôi biết có nhiều cụ già sống như câm, như điếc trong các chung cư Mỹ. Con cháu phải lo đi làm, đi học, không có thì giờ săn sóc thường xuyên.  Các cụ cần một môi trường sống tự nhiên như ở Sàigòn, như vậy các cụ sống vui thì sẽ mạnh khỏe, khỏi tâm bịnh.


Tôi nghĩ cha Chỉnh đã tạo ra một hình thức làng Việt Nam rất thành công, rất hữu ích. Đồng ý là mình không sống quá xa cách với phong tục Mỹ vì dù sao mình cũng đang sống trên đất Mỹ.  Nhập gia tùy tục, tôn trọng đời sống riêng tư cũng có nhiều cái hay, nhưng người già Việt Nam rất cần một chỗ như Làng này, bác ạ.
Nhắp một ngụm trà, ông Tuyên tiếp:
-  Ở Cali và chắc là ngay ở đây cũng có những hội cao niên để các cụ giải trí, nhưng chưa được thành công và tự nhiên như đời sống ở đây, phải không? Tôi thấy ở Làng này mọi người sống gần gũi dễ thương như bà con họ hàng. Qui luật của Làng cũng khá nghiêm nghặt.  Chúng tôi có thuê người canh gác để đề phòng trộm vặt.
Tối đến, làng đóng bớt một cổng, mọi người và xe cộ chỉ qua một cổng, có người gác. Kẻ lạ mặt, do đó cũng sẽ e dè, không dám lộng hành.
-  Thế ở đây ai cũng theo đạo Thiên Chúa giáo hết sao?
-  Không phải đâu, chỉ đa số thôi bác ạ. Ai muốn vào mua cũng được, không phân biệt tôn giáo hay mầu da. Tuy nhiên, theo khuynh hướng tự nhiên, các bà con người Việt, Công Giáo chiếm có lẽ hơn 90%, chắc vì “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” như ông bà ta vẫn nói.
Đưa tay chỉ bên phải của mình, ông Tuyên nói tiếp:
-  Bà Dậu ở căn kế nhà tôi là người đạo Phật đấy bác. Gia đình con cháu của bà ở Tulsa, tiểu bang Oklahoma, nhưng cứ đến mùa Đông thì bà ấy lại về đây tránh lạnh. Bà về đây ở một mình nhưng có nhiều bạn già nên vui lắm.  Các cụ cũng trên dưới bảy mươi, hay tụ tập lại nhà bà Dậu để nói chuyện, đánh tam cúc, hay nấu nướng món này món kia rồi mời các cụ khác đến ăn.
-  Thế bác có được mời qua ăn không?
-  Có chứ bác, bà Dậu cho biết là bà ấy phải tìm việc mà làm cho bận tay bận chân, chứ ở không thì sanh bệnh. Riết rồi có người đặt bà làm bánh trái, chả giò ... khi có tiệc tùng.
-  Vậy thì lại có thêm tiền tiêu, bác nhỉ?
- Vâng, nhưng bao nhiêu tiền kiếm được, bà ấy cho hết vào chùa hay gởi về tặng người già, túng thiếu tại Việt Nam bác ạ. Chúng tôi cũng hay đặt chả giò của bà ấy vì vừa ngon lại vừa sạch sẽ.Nhờ bận rộn, lại kiếm được tiền giúp người khác,bà Dậu khỏe hẳn ra bác ạ.
-  Thế mùa Hè nhà bỏ trống sao bác?
-  Không đâu bác, mùa Hè, con cháu của bà ấy từ các nơi về đây chơi, rồi đi biển Galveston tắm. Tối tối, các cô cậu ấy lại đưa nhau đi vòng vòng các khu chợ Việt Nam uống Cafe. Các cô cậu ấy cũng hay ghé vào đây chuyện trò với chúng tôi.
-  Mà sao tôi thấy nhà đóng cửa hết vậy, bây giờ không có ai ở sao ?
Thấp giọng, Ông Tuyên buồn buồn đáp:
-  Mới tuần trước, bà Dậu phải mổ tim và mất rồi bác ạ. Cả xóm đều thương tiếc.
Hai ông bạn đang ngậm ngùi thì có tiếng từ dưới sân vọng lên:
-  Bác Tuyên ơi, xin lỗi bác, có bác gái ở nhà không?
-  Bà nhà tôi đi xuống nhà nguyện rồi. Có chuyện gì không cô Ba?
-  Con muốn hỏi bác gái có muốn đi chợ Hồng Kông 4 ngày mai không, con chở đi.
-  Cám ơn cô, tôi sẽ nhắn lại với nhà tôi.
- Dạ, cám ơn bác.
Quay lại nhìn ông Chương, ông Tuyên tiếp:
-  Đời sống như vậy đó bác, y hệt xóm mình ngày xưa ở Biên Hòa. Mấy cô cậu trẻ ở đây lái xe ào ào. Tụi mình già rồi, chừng nào muốn đi đâu mình nhờ họ chở, chỉ cần trả họ chút tiền xăng nhớt cho vui và như vậy mình cũng đỡ ngại khi nhờ họ.
-  Tiện quá hả bác?
-  Vâng, tiện lắm bác, có nhiều cô cậu đi làm ca đêm, nên ban ngày họ rảnh, nhất là cuối tuần. Thay vì đi xe Bus, phải đổi hai, ba lần, hoặc thuê Taxi thì ngôn ngữ bất đồng, lại rất đắt, các người già trong này nhờ họ. Cô Ba này có chiếc xe Lexus mới toanh đó bác. Chừng nào cần đi bác sĩ, nha sĩ, chúng tôi cũng nhờ cô ấy chở đi giúp. Này nhé, lưỡng lợi cả đôi bên, các cô cậu ấy chỉ việc chở mình đến đó rồi họ đi công việc của họ, đến lúc mình xong thì họ đến đón mình về.
-  Vậy thì khỏe thật bác ạ.
-  Vâng, có bữa các bà trong xóm muốn đi mua sắm thì cô Ba cũng đi luôn, mỗi bà trả cho cô ấy 15 đồng, đi suốt cả buổi, chừng nào các bà mua bán xong, cô ấy lại chở về. Còn nếu cô ấy bận việc không chở được, thì có cậu Hùng chở đi, cậu này thả các bà xong là vào rạp cinê coi phim.  Đôi bên cùng vui vẻ, mình được ngồi nhà, khỏi theo các bà la cà vào chợ .
-  Thế các cô các cậu ấy có chở giùm đi lo giấy tờ gì không bác?
-  Có đấy ạ, khi cần lo việc như thi quốc tịch, hay giấy tờ an sinh xã hội, các cô cậu ấy cũng đưa đi, và làm thông dịch luôn cho các cụ, và chi phí cũng rất là khiêm nhường, đâu như chỉ khoảng 50 dollars thôi.
-  Vậy thì tốt quá hả bác. Các cụ vừa thoải mái, vừa không phải phiền hà đến con cháu, vì ở xứ này con cháu đi làm mà cứ phải xin nghỉ để đi lo việc cho cha mẹ, ông bà cũng phiền, nhất là dạo này nhiều công ty đang sa thải nhân viên.
-  Đúng thế, bác ạ, những tiện nghi này rất là thực dụng. Các cụ đôi khi cũng không muốn tùy thuộc quá nhiều vào con cháu. Nhờ các cô cậu hàng xóm trẻ này chở đi đây đi đó, cái tình thân vẫn có, nhưng ơn nghĩa giảm đi nhiều, vì dù sao các cụ cũng trả thù lao cân xứng.
-  Thế nếu khi nào các cụ bà chỉ cần vài thứ lặt vặt, cũng phải nhờ người chở đi chợ xa sao bác?
-  Không bác ạ. Ngay trong làng này cũng có một tiệm tạp hóa nhỏ, nhưng bán đủ thứ cần dùng hàng ngày cho dân trong làng.  Tiệm nằm ngay giữa làng nên rất tiện cho mọi người. Gạo, nước mắm, rau cải, mì gói, thuốc đánh răng, dầu cù là ... hầu như đủ cả. Ai cần mua nhiều mới phải đi xa, chứ nếu cần ít thì chỉ đến đấy. Để tôi dẫn bác đi bộ một vòng trong làng rồi mình ghé vào tiệm ấy cho bác coi.
Rẽ qua một con đường nhỏ trong xóm, ông Tuyên giải thích với bạn:
-  Tôi thích đi bộ trong xóm bác ạ.  Sáng đi vài vòng, tối ăn cơm xong lại đi tản bộ với nhà tôi, vừa tập thể dục lại vừa chào hỏi bà con lối xóm. Sáng mai bác sẽ thấy các Cụ tập Tai-Chi ngay bãi đậu xe, hay có người lại đi bộ theo con kinh này, vui lắm.
Ông Tuyên đưa tay chỉ ra bờ nước, tiếp:
-  Lúc này người ta rào lại, không cho xuống bờ nữa, chứ ngày trước mình có thể xuống đi dọc theo hai bên bờ con kinh này đấy bác.
Ông Chương tò mò:
-  Tại sao vậy bác?
-  Giản dị thôi, một phần vì sợ các cháu nhỏ ra chơi rồi nhỡ trợt chân té, một phần vì không muốn dân làng xuống đó trồng rau muống, bác ạ.
-  Ủa sao lạ vậy? Sao lại không cho trồng rau muống?

Ông Tuyên vẫn từ tốn, tủm tỉm cười:

-  Bà con Việt Nam mình vẫn hay có sáng kiến lạ. Hồi đầu, bên rạch nước là bờ cỏ xanh. Thay vì cắt cỏ, bà con ta làm đất trồng rau cải, hành, ớt ... vừa khỏi cắt cỏ lại vừa có rau tươi để ăn.
-  Thế tại sao ai lại cấm trồng rau muống?
-  Bà con ta, thấy trồng rau muống trên khô mà đã tốt đến thế, nên lại thả luôn giống rau muống xuống nước.  Rau muống gặp nước phát triển quá độ, bà con ta vừa ăn, vừa biếu cũng không kịp. Ngặt nỗi là rễ rau muống lan nhanh làm đầy hết kinh rãnh, thế là xóm khác bị lụt. Họ khiếu nại, nên thành phố phạt chung cư này, bắt rào lại và cấm trồng rau muống.
Ông Tuyên đưa tay lên gãi đầu, rồi tiếp:
-  Tôi cũng không biết có phải vì vụ này hay là do từ đâu mà sau này những nơi trồng rau muống nước đều bị cấm ngặt.
-  Như vậy là hết rau muống để ăn hả bác?
Ông Tuyên trấn an bạn:
-  Dân Bắc kỳ chúng mình mà không có rau muống làm sao sống nổi, Bác. Ngoài chợ vẫn có bán đấy chứ, nhưng rau muống bây giờ là loại rau trồng trên cạn, có nơi lại trồng cả trong nhà kính vào mùa lạnh, nên ta có rau ăn quanh năm. Cọng rau không được mềm như rau muống nước bác ạ. Bác đừng lo, tối này nhà tôi sẽ mời bác dùng cơm với rau muống luộc và cà pháo.

Ông Chương cười lớn:

-  Xứ Mỹ này có nhiều cái rắc rối bất ngờ. Chắc họ cũng có lý do của họ. Thôi thì cứ nhập gia tùy tục, bác nhỉ?
-  Vâng, thì phải vậy. Mà này bác, bác còn thích đánh chén với tiết canh heo không?
Ông Chương ngạc nhiên:
-  Ở đâu mà có món ăn quốc hồn quốc túy đó? Từ hồi qua đây tôi có thấy bao giờ đâu bác.
Ông Tuyên cười, bí mật:
-  Món ngon quốc hồn quốc túy nào ở đây cũng có cả.  Trong làng, thỉnh thoảng họ chung nhau lên mấy trại nuôi súc vật ở đây, mua nguyên con bò, con heo làm thịt tươi, rồi lấy huyết làm tiết canh. Tôi nghe nói bên làng Thái Xuân họ còn làm heo ngay tại trong làng nữa. Không biết có đúng không.
-  Làng Thái Xuân! Bác vừa nói có làng khác nữa à?
-  Vâng, tôi quên chưa nói với bác là sau khi làng Joseph này lập ra và thành công, thì có nhiều nhóm cũng bắt chước lập ra nhiều làng tương tự.  Ngay bên kia đường có làng Đà Lạt.  Làng Thái Xuân cách đây chừng năm phút lái xe. Nghe nói bên làng Thái Xuân có nhiều anh em H.O. lắm và tinh thần Việt Nam cũng không thua gì làng Joseph này bác ạ.  Tuy nhiên hình như chỉ có làng Joseph này là có vẻ “xóm đạo” nhất. Không biết có phải vì do cha Chỉnh lập ra mà được như thế không nữa.

Ông Chương lại thắc mắc:

-  Thế Làng có tổ chức quản trị gì đặc biệt không, bác?
-  Có chứ ạ. Ban quản trị làng do bà con bầu ra để lo việc chung của làng như bảo trì, đổ rác, điện nước ... Ngoài việc đó, ban quản trị còn lo các việc đặc biệt như hội hè, đình đám, quan hôn, tang tế... trong làng. Các ngày lễ lớn như Tết Nguyên Đán, Trung Thu, Giáng Sinh... ở đây vui lắm. Tết thì giống như ở Việt Nam ta, pháo nổ đón Xuân đêm giao thừa.
Ông Chương ngắt lời bạn:
-  Đốt pháo ban đêm như vậy mà cảnh sát không làm khó dễ sao, Bác?
Ông Tuyên từ tốn:
-  Mình xin được giấy phép của thành phố cho đốt pháo mới dám đốt, chứ bác. Cảnh sát còn đến giữ trật tự cho dân làng đốt pháo, vì Houston cấm đốt pháo, nếu không có giấy phép.
Ông Chương gật gù:
-  Thế thì hay thật đấy, Bác. Mà bác này, nãy giờ mình bách bộ tôi thấy có vài người Mỹ.  Họ cũng ở đây hả bác?
-  Vâng, đấy là con dâu, con rể, cháu ngoại, cháu nội ... của các cụ trong Làng. Nhiều cô cậu cũng nghe và nói được tiếng Việt mình đấy bác ạ.  Tôi thấy họ cũng có vẻ thích đời sống ở đây lắm.
Chỉ tay vào vài đứa bé đang ngồi chơi cuối dãy, ông Tuyên nói tiếp:
-  Bác thấy các cháu nhỏ kia không. Các cháu lai nửa Mỹ, nửa Việt mà đang nói tiếng Việt rành rẽ như vậy đó.
-  Ồ, các cháu dễ thương quá.

Vừa lúc ấy, bà Tuyên ở nhà Nguyện đi về, đám trẻ bu lại chào hỏi. Một cô bé da trắng hồng nắm lấy áo bà, hỏi:

-  Hi Bà Ngoại, Can Jennifer play?
Bà Tuyên cúi xuống, vuốt đầu đứa bé:
-  Chào bé Ann. Để bà coi nhé.
Rồi bà nói vọng lên trên lầu với cô cháu ngoại:
-  Jennifer ơi, bé Ann rủ con chơi này.
Cô cháu gái chạy xuống lầu, rồi nhanh nhẩu đáp:
-  Thank you, Grandma.
Vừa nói cô bé vừa chạy theo chơi đùa với bạn. Ông Chương chưng hửng trước cảnh này. Bầy nhỏ và bà Tuyên nói mỗi người một thứ tiếng, mà ai cũng hiểu nhau. Sự thông đạt không cần ngôn ngữ.  Nhìn vẻ mặt ngạc nhiên của bạn, ông Tuyên giải thích:
-  Ở đây, mấy đứa bé chơi với nhau thường lắm. Chúng đến chơi với cháu Jennifer hoài nên quen biết. Chúng theo Jennifer, gọi nhà tôi là “Bà Ngoại” Bà nhà tôi cũng thương chúng như thương Jennifer. Có gì cũng san sẻ với chúng. Bà nhà tôi nói tiếng Việt, chúng không nói rành, nhưng hiểu hết. Mà bà nhà tôi, dù không nói tiếng Mỹ với chúng nhưng lại cũng hiểu chúng nói gì. Đúng là sự truyền đạt không cần ngôn ngữ. Bác đồng ý không?

Ông Chương gật đầu:

-  Đúng vậy, Tôi nghĩ sự đạt thông tư tưởng sâu xa chính là sự cảm nhận chứ không phải ngôn từ. Cảm nhận bằng tình thương là sự cảm nhận và cảm thông tuyệt diệu nhất.
Dừng lại bên cây đu đủ đầy trái, ông Chuơng nói tiếp:
-  Tôi nghĩ rằng môi trường sống trong làng này cũng có ít nhiều ảnh hưởng tốt đẹp đến sự sống hòa đồng của dân làng.  Chẳng biết bao giờ mình mới có cơ hội trở về sống lại nơi quê mình ở Biên Hòa, nhưng ở xứ Mỹ mà được sống hài hòa như nơi đây cũng là nhờ ơn trên nhiều lắm.  Cây đu đủ này của ai bác nhỉ?
-  Của bà Dậu trồng đấy bác ạ, nhưng ai muốn dùng thì cứ việc tự nhiên, để tôi hái một quả chín chốc nữa mời bác dùng tráng miệng.
Cầm quả đu đủ chín vàng trong tay, ông Tuyên ngậm ngùi:
-  Tiếc quá, bà Dậu đã qua đời. Dù sao mình cũng cảm ơn Bà đã trồng cây này để bà con có trái ngọt quê hương. Thôi ta vào dùng cơm bác ạ, chắc nhà tôi đã nấu xong rồi .




Nguyễn Phục Hưng

Thứ Sáu, 8 tháng 4, 2016

LÀNG A DI ĐÀ (HOUSTON TEXAS)




Làng A Di Đà

image

Vùng phụ cận Houston, tiểu bang Texas, tại 12081 Doty Dr, thành phố Conroe, có một làng cư dân Phật tử có tên là A Di Đà. Từ Houston đi hướng I-45 North, chúng ta sẽ đến được làng A Di Đà; chạy ngược ra lại I-45 North ta có thể tiếp tục đi về thành phố DallasTX.

image

Làng A Di Đà nằm trong một khuôn viên trên một ngọn đồi rộng hơn 40 hecta là một khu rừng, hẻo lánh, hoang vu. Con đường dốc đi lên đến làng ngoằn ngoèo, không khó đi, còn hoang dã với vẻ thiên nhiên, chưa được thơ mộng lắm. Khung cảnh tại đây vắng lặng, tĩnh mịch thích hợp cho những người lớn tuổi hoặc muốn xa lánh bụi trần.

image

Làng mới được xây dựng từ vài năm trước, hiện vẫn đang được tiếp tục xây dựng thêm nhiều hạng mục kiến trúc khác nữa, cho nên từ Doty Dr. vào đến làng A Di Đà, đường đi nhỏ hẹp, chưa được tráng nhựa, vừa đủ một lane đường cho xe chạy. Làng A Di Đà được gọi là làng vì ở đây có đến một trăm ngôi nhà nhỏ di động (trailer), được đặt trong từng khuôn viên một, nhìn có vẻ khang trang, gọn gàng. Để có một ngôi nhà di động trong làng, một sở hữu chủ chỉ trả chi phí cho miếng đất đặt trailer, còn các chi phí khác như điện, nước hàng tháng chỉ trả một khoản nhỏ như là tượng trưng. Cư dân ở đây có người theo tín ngưỡng Phật giáo, cũng có người theo tín ngưỡng Công giáo.

image

Trong làng A Di Đà đó có nhiều kiến trúc nhỏ được xây dựng tập trung trong vài hécta đất. Các kiến trúc ở đây không nguy nga, tráng lệ; chủ yếu dùng vật liệu gỗ để xây dựng, nhưng nhìn có mỹ thuật và tỉ mỉ trong từng đường nét kiến trúc. Kiến trúc lớn nhất trong làng A Di Đà phải nói đến ngôi chùa Tầm Nguyên II. Tên Tầm Nguyên đặt cho chùa là được gợi ý từ nghĩa của bốn chữ “Bổn Tánh Hoàn Nguyên”. Chánh điện có đặt một tượng Đức Thích Ca thật lớn, bên dưới là tượng của Đại Tam Thánh.

image

Đặc biệt không giống như các chùa, trong chùa Tầm Nguyên II không cho đặt thùng công đức, vì theo thầy trụ trì thì sự đóng góp của các Phật tử đã đủ để chùa xây dựng và sinh hoạt nên không nhất thiết phải quyên góp. Ngoài những lễ chính hàng ngày, chùa Tầm Nguyên II là nơi các Phật tử từ các nơi xa, gần về tu tập, gieo duyên, có Phật tử ở Canada, Úc Châu, Âu Châu và năm mươi tiểu bang của Hoa Kỳ cũng về đây dự khoá học.

image

Thường lệ thì mỗi tháng có hai khoá tu tập. Chùa có một trai phòng lớn xây bên cạnh, tiếp được hai trăm thực khách; những cư dân ở trong làng A Di Đà mỗi ngày có thể đến trai phòng của chùa Tầm Nguyên II dùng hai bữa cơm chay miễn phí.

image

Thượng Toạ (TT) Thích Thông Lai, cho biết, ngoài chùa Tầm Nguyên II này, còn có các chùa Tầm Nguyên I  là Tổ Đình ở Washington  State, chùa Tầm Nguyên III và Làng A Di Đà II ở Indio CA, chùa Tầm Nguyên V ở Vallejo CA. Phật tử ở các chùa lên đến hơn ba ngàn người. Các chùa Tầm Nguyên do thầy Thích Thông Lai trụ trì và hướng dẫn phật tử tu theo Pháp Môn Tịnh Độ, qui tắc tu học của chùa Tầm Nguyên là thực hành theo mười điều trong “Lời Khai Thị Của Ấn Quang Đại Sư”. Các ngôi chùa do Thầy Thích Thông Lai và Phật tử xây dựng, đều không thuộc hệ thống tổ chức của Giáo Hội Phật Giáo nào cũng như Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại hải ngoại.

image

Một kiến trúc khác nữa rất đẹp là tượng đài “Tổ Quốc Ghi Ơn”, được xây bằng đá granite đen nổi bật bốn chữ “Tổ Quốc Ghi Ơn” màu trắng, ngay phía sau đài được dựng 26 lá cờ của 26 đơn vị quân đội của Việt Nam Cộng Hoà (VNCH). Lễ đặt viên đá đầu tiên để xây dựng tượng đài vào ngày 2 tháng 2 năm 2014 dưới sự chủ trì và đại diện là Thượng Toạ Thích Thông Lai, cựu Thiếu Tá VNCH Trương Văn Cao, cựu Trung Uý VNCH Lê Văn Thọ, cựu chuyên viên điện lạnh Cục Quân Nhu VNCH Nguyễn Kim Như, cựu Tỉnh Đoàn Trưởng Xây Dựng Nông Thôn VNCH Lê Minh Giang. Nhiều người đến đây thường thích chụp hình dưới chân đài tưởng niệm, vì phía trước đài có hồ phun nước nhỏ, chung quanh trồng cây cảnh, được chăm sóc thường xuyên nên cảnh quan khá bắt mắt khách vãng lai.

image

Tượng đài “Tổ Quốc Ghi Ơn” có thể được coi như là trung tâm của một quần thể kiến trúc các tượng đài nhỏ, bởi vì bên phải tượng đài được xây một ngôi đền nhỏ tưởng niệm chiến sĩ “Vị Quốc Vong Thân”; bên trái là tượng đài thuyền nhân và tượng đài Đức Quán Thế Âm Bồ Tát cùng tượng đài Đức Mẹ La Vang Việt Nam; phía sau là tượng đài Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát.

image

Bên trong Đền Tưởng Niệm “Vị Quốc Vong Thân” có thờ  57 vị anh hùng đã tuẩn tiết và các vị anh hùng vô danh của Quân lực VNCH đã sống oanh liệt, chết lưu danh vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 đen tối như Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Thiếu Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Đại tá Hồ Ngọc Cẩn, Thiếu Tá Nguyễn Văn Long,…  cũng như biểu tượng vinh danh các người lính Hoa Kỳ đã tử trận tại VN. Một khác biệt nữa là được thờ phụng tại đây còn có di ảnh của cố Đức ông Trần Văn Hoài và cố Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền.  Cố Đức ông Trần Văn Hoài người phục vụ tại Toà Thánh Vatican trong nhiều năm, là người có công vận động Liên Hiệp Quốc đón nhận thuyền nhân VN đến các nước; Cố Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền, địa phận Huế, là người đã bị nhà cầm quyền cộng sản VN giam giữ mười mấy năm trời trong trại tù cải tạo và đã chết sau khi được trả về.

image

Tượng đài thuyền nhân là hai con thuyền bằng gỗ với những hình tượng thuyền nhân bên trên. Đây là những con thuyền mà thuyền nhân VN dùng để vượt biển đào thoát khỏi chế độ cộng sản tại VN. Theo số liệu của Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn, trong khoảng thời gian 1975-1995 đã có 849.228 người vượt biên bằng đường biển và đường bộ.

image

Một số thuyền nhân được các tàu nước ngoài cứu vớt; một số khác đến được các đảo của các nước lận cận VN; một số bị thiệt mạng trên biển, rất nhiều người bị hải tặc cướp bóc, hãm hiếp trước khi được cứu. Hiện nay chưa có một con số thống kê chính thức về số thuyền nhân bị chết trên biển. Tại một số nước có những tượng đài được dựng lên để tưởng nhớ đến những thuyền nhân VN bị thiệt mạng trong các cuộc vượt biên; tượng đài thuyền nhân ở làng A Di Đà cũng là một điển hình trong các tượng đài đó.

image

Sự nguy hiểm, đau xót trên con đường vượt biên bằng đường biển của người VN là không kể xiết; vì thế sau này có nhiều câu chuyện kể về chuyến vượt biển của những con người đứng trước chín phần chết một phần sống, trong cái chết họ chỉ biết cầu nguyện Đức Quán Thế Âm Bồ Tát hoặc Đức Mẹ Maria; rồi thì có những sự hiển linh và họ đã được cứu sống. Cho nên thầy Thích Thông Lai đã cho xây dựng tượng đài Đức Quán Thế Âm Bồ Tát và Đức Mẹ La Vang VN ở hai bên tượng đài thuyền nhân, để cư dân trong làng của cả hai tôn giáo này có thể đến cầu nguyện bất cứ lúc nào.

image

Phía trước, hai bên tượng đài Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát được dựng hai ngôi miếu nhỏ xíu nằm trên hai cây cột như hai ngôi chùa một cột; miếu bên trái thờ các thai nhi chết khi còn nằm trong bụng mẹ hoặc vừa mới được sinh ra, miếu bên phải thờ các vong linh của các “Đồng Bào Tử Nạn Trên Đường Vượt Biên", với mục đích làm nơi cầu siêu và tưởng niệm bất vụ lợi hàng năm cho các đồng bào bất hạnh đã mất tích hay tử nạn trên đường vượt biên tìm tự do.

image

Trong mỗi miếu nhỏ này có đặt hình tượng của các thai nhi và các thuyền nhân bằng pha-lê lấp lánh trong ánh sáng của ngọn đèn led nhỏ. Một vài cư dân trong làng A Di Đà có kể lại rằng thỉnh thoảng vào những đêm hôm khuya khoắt, họ bắt gặp nhưng vong hồn lặng lẽ của các sinh linh đã chết này xuất hiện trước các miếu thờ (!).

image

Ngoài các kiến trúc chính trên, còn phải kể đến các kiến trúc khác như gác chuông đồng rất lớn bên cạnh tượng đài Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát; Nhà Vãng Sanh nơi thực hiện tang lễ cho người đã khuất; cuối cùng là nhà thờ Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát, bên trong có một “cỗ thọ đường” dùng để cho một người còn sinh thời muốn được trải nghiệm qua một lễ tang của mình như thế nào.

image

Chính vì những kiến trúc được xây dựng theo mục đích thờ tự không giống như các chùa Phật giáo chính thống, nên đã tạo ra nhiều tò mò cho nhiều du khách đến dâng hương và thưởng ngoạn. Theo thầy trụ trì thì các công trình kiến trúc cần thiết khác vẫn còn đang được tiếp tục lên kế hoạch xây dựng. Đây là sự phát tâm rộng lớn của các Phật tử gần xa, hy vọng khu làng A Di Đà sẽ sớm được hoàn thành để làm nơi tương trợ tu tập cho các tăng ni và Phật tử, và nơi chăm sóc và trợ niệm cho các Phật tử trong giây phút cuối cùng được dễ dàng vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

image

Có hai nhận xét trái chiều về cách hành xử tôn giáo trong ngôi làng A Di Đà, có người không thích vì họ cho rằng chùa nơi đây không phải là ngôi chùa thờ Phật theo đúng nghĩa, nghi lễ cúng lễ của chùa chưa phù hợp với Phật giáo. Nhưng cũng có người tán thành việc hoà đồng tôn giáo của thầy trụ trì Thích Thông Lai.

image


Nếu có ai đó lần đầu gặp TT Thích Thông Lai, đều có vẻ e dè trước cách nói chuyện và ánh mắt nhìn như một “hảo hán Lương Sơn Bạt” của TT. Thầy Thích Thông Lai sinh năm 1952, trước đây là sĩ quan Tuyên Uý trong Quân lực VNCH, hiện nay tuy vẫn là một nhà tu hành, nhưng TT Thích Thông Lai vẫn nhận định rằng chế độ cộng sản là ác nghiệt với dân chúng, với chúng sinh, không phù hợp với sự từ bi của Phật giáo, cho nên quan điểm của TT là cho dù không thể tu thành đấng A La Hán, đấng Bồ Tát, hoặc có tái sinh một kiếp nhân trần khác TT cũng không chấp nhận chế độ này trong cõi ta bà. Trong những trải lòng của mình về quan điểm chống cộng, TT Thích Thông Lai vẫn thường tự an ủi mình bằng những câu chuyện về cuộc đời Phật Hoàng Trần Nhân Tông:

Cư trnlđạo thả tùy duyên
Cơ tc xan h khn tc miên

Dịch:

Sng gia phàm trn,hãy tùy duyên mà vui vđạo
Đói thì ăn, mt thì ng.

(Trần Nhân Tông)