Chủ Nhật, 13 tháng 8, 2023

WUHAN CORONAVIRUS

 13082020



WUHAN CORONAVIRUS
Trần gian virus đã tràn LAN
Đại dịch Cô Vi quả lộng HÀNH
Hết thảy Mọi người sợ vướng phải
Chinese virus sống không AN
Hoảng sợ, người dân tâm bất ổn
Khóc than lo lắng suốt ngày ĐÊM
Cướp đi mạng sống người thân ấy
Không được nhìn nhau kề cận BÊN
Thế giới, vì Cô, mà nhuốm bệnh.
Nhưng Cô, vẫn quyết giết không THA
Làm cho thế giới luôn điên đảo
Sống chết trong tay kẻ sát NHÂN
Cô sống cùng chung một chế độ
Độc tài Cộng Sản vớ Hồ - MAO
Giết người đấu tố không tha mạng
Nên thích giết người uống máu TƯƠI

- Hãy hình dung thành phố chúng ta đang sống là một thành phố chết... Với những con đường vắng tanh, bệnh viện hết chỗ, không còn giao thông công cộng.
- Hãy nhìn đất nước của mình đang cư ngụ, mọi sinh hoạt trong cuộc sống đều ngưng đọng, các nhà máy im lìm, không hoạt động, cư dân bị phong tỏa tại nhà; Trung tâm y tế, bệnh viện đông nghẹt người. Những phi trường, nhà ga vắng lặng và cả đất nước bị cách ly.!
- Đó là tình hình của những nơi mà Cô Vi có nhã hứng, chiếu cố ghé thăm cùng với lưỡi hái Tử thần của mình. Cô Vi ghé nơi nào, ít tuần sau thành phố đó hoặc thậm chí cả một quốc gia ở đó bắt đầu rỉ máu rồi chìm vào hôn mê, tê liệt… Cô Vi "lang bạt kỳ hồ", đã đang và vẫn không ngừng gieo rắc nỗi sợ hãi cho cả thế giới.

MÙA DỊCH
Trời đất Đã, nổi Cơn đại DỊCH
Khiến toàn Cầu không ÍT lao ĐAO
Khắp Nơi báo Động kêu GÀO
Sợ Con “vi Rút” lẻn VÀO quốc Gia.
Nơi tâm Dịch, diễn Ra điểm NÓNG
Cồ rô na, lan RỘNG mỗi NGÀY
Ngóng Tin từng Phút, từng GIÂY
Cô Vi mười Chín đó Đây hoành Hành
Nguy cơ Dịch, trở Thành thảm HỌA
Luôn đề Phòng chớ QUÁ chủ QUAN
Ngăn Ngừa bùng Phát lây LAN
Đề Cao cảnh Giác trước NÀNG Cô Vi.
Tránh nghĩ đến quán bar, du LỊCH
Hoặc những nơi di TÍCH, viếng THĂM…
Ra đường nhớ bịt khẩu TRANG
Rửa tay, khoảng cách nhớ RẰNG ưu tiên
Nhà chỗ mô, người luôn ở ĐÓ
Không việc chi chớ CÓ ra ĐƯỜNG
Vợ chồng cơm cháo với TƯƠNG
Ăn xong ba bữa lên GIƯỜNG trùm chăn
Việc phòng chống đồng tâm tích CỰC
Các cơ quan hợp SỨC tham GIA
Tin rằng chắc chắn không XA
Năm châu, bốn biển vượt QUA nạn nầy.

Tất nhiên, có những lý do tại sao một số người chọn tránh nghe tin buồn hoặc tránh suy nghĩ nhiều về thảm họa. Liên tục xem tin tức về các sự kiện kinh hoàng, có liên hệ đến mức độ căng thẳng nghiêm trọng cao, có thể ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe tinh thần của chúng ta.
Ngay hiện giờ, chúng ta có thể thấy quá trình kỳ lạ tương tự xảy ra khi con số tử vong toàn cầu do virus corona tăng lên mỗi ngày.
Cho đến hôm nay (13-8-20) Con số sinh mạng mà virus này cướp đi hơn 753.394 người và hơn 21.077.917 ca nhiễm đã được ghi nhận ở 200 quốc gia.
Mỗi cái chết là một bi kịch xảy ra ở cấp độ cá nhân với một gia đình tang thương và bàng hoàng. Nhưng khi nhìn rộng ra thì ai thực sự có thể hiểu được con số lớn như vậy?
Tại Mỹ, nơi đã vượt cột mốc đau buồn 100.000 người chết từ hồi tháng Sáu (mà cho đến những ngày giữa tháng Tám đã tăng lên tới 170.415 người), các nhà báo đã tìm mọi cách để giúp công chúng hiểu về sự tàn phá của dịch bệnh.
Con số hồi tháng Sáu là cao "gấp đôi số người Mỹ thiệt mạng trong toàn bộ Chiến tranh Việt Nam" và "vượt quá số người thiệt mạng khi giao tranh của quân đội Mỹ trong mọi cuộc chiến kể từ Chiến tranh Triều Tiên".
Nhưng việc chúng ta không thể hiểu được những thống khổ gắn với những con số này có thể gây hại cho cách chúng ta phản ứng với những bi kịch như vậy.
Ngay cả bây giờ, có bằng chứng cho thấy mọi người đang bị mệt mỏi với những tin tức về virus corona và đọc cũng như theo dỏi ít hơn về đại dịch khủng khiếp nầy.
Điều này một phần có thể là do một hiện tượng tâm lý được gọi là CHAI SẠN TÂM LÝ, tức là quan niệm rằng "càng nhiều người chết, ta càng ít quan tâm".

THẾ GIỚI DIỆT CÔ VY
Cô Vi, cô vít, cô VÌ
Cô quậy châu Á cô ĐÌ châu ÂU
Châu Mỹ nay cũng đã RẦU
Mọi người sợ hãi, điên ĐẦU vì cô
Cô đến chẳng biết chi MÔ
Ở mô cũng chẳng ai SỜ được CÔ
Bay qua lướt biển, xuyên HỒ
Cô vào đúng lúc bất NGỜ giết dân
Người ta chẳng dám đứng GẦN
Khẩu trang kín mít tần NGẦN chào NHAU
Người già dưỡng bệnh ốm ĐAU
Trẻ mong đến lớp nên RẦU bản thân
Nhân gian cứ thế cô HÀNH
Cô làm người chết tưởng THÀNH công SAO.!
VACCINE đã sẵn nghênh CHÀO
Truy cùng diệt tận cô NÀO váo vênh.!

Vì không xử lý tốt cho lắm với những con số rất lớn. Nếu chúng ta nói về mạng sống, một mạng sống là vô cùng quan trọng, quý giá và chúng ta sẽ làm bất cứ điều gì để bảo vệ mạng sống đó, cứu mạng sống đó, cứu giúp người đó. Nhưng khi số lượng sinh mạng tăng lên quá mức tưởng tượng thì cảm xúc của chúng ta lại không tăng theo tương ứng.
Thực ra, khi các con số thống kê liên quan đến thảm kịch ngày càng lớn hơn, tâm lý chúng ta trở nên CHAI SẠN và mức cảm xúc giảm dần. Điều này đến lượt nó khiến chúng ta ít có khả năng thực hiện hành động cần thiết để ngăn chặn nạn diệt chủng, cứu trợ cho thảm họa thiên nhiên hoặc thông qua các đạo luật để chiến đấu với sự nóng lên toàn cầu.
Trong trường hợp đại dịch hiện nay đã kéo dài hơn tám tháng qua, nó có thể dẫn đến một kiểu VÔ CẢM khiến mọi người chỉ biết tự mãn bằng cách rửa tay, đeo khẩu trang và giữ khoảng cách, - cả ba việc đều đã được chứng minh là giảm lây lan virus.
- Những người già yếu như chúng tôi cách ly tại gia là cách tốt nhất hiện nay.
13082020

Thứ Bảy, 12 tháng 8, 2023

TUỔI GIÀ VÀ SỰ CÔ ĐƠN.




Nhìn đến trước, người xưa vắng vẻ
Ngó lui về, quạnh quẽ người sau
Ngẫm suy trời đất dài lâu
Mình ta nhỏ lệ u sầu chứa chan.


Qua khỏi ngưỡng cửa "nửa chừng Xuân", chúng ta bước vào thế hệ gọi là "đứng tuổi", tức là lứa tuổi trên 60. Lứa tuổi nầy, ở Mỹ, hầu hết đã thuộc diện "empty nesters", khi mà những đứa con như những con chim sổ lồng, lìa xa tổ ấm. Người Việt khi hội nhập vào xã hội Mỹ, hầu hết cũng phải quen với thực trạng khi con cái lớn khôn, để lại cha mẹ trong sự cô quạnh với căn nhà vắng lặng. Điều đó khác hẳn với xã hội phương Đông và nền văn hoá Việt Nam, cả ba đời sống cùng trong một gia đình (Ông Bà, Con cái, Cháu chắc.v.v...)
Con người ta, từ bản năng, là một loài "sinh vật xã hội" (social animal), với sự tương quan giữa những cá nhân trong gia đình, trong xã hội, đóng một phần rất quan trọng cho sự bền vững của tâm thần, và phát huy về văn minh, trí tuệ. Ngày xưa, con người thường sống trong một đơn vị gia đình có rất nhiều con cái, có khi, nhiều thế hệ, con cháu, bà con, chung dưới một mái nhà. Người lớn chăm sóc trẻ con, và khi về già lại được con cháu chăm lo sức khoẻ cho Cha Mẹ, Ông Bà, "trẻ cậy cha, già cậy con" là vậy.

Tuy nhiên trong vòng một thế kỷ vừa qua, nhất là ở Mỹ, do phải đáp ứng cho sự đòi hỏi của công ăn việc làm, con cái thường sống xa gia đình. Ngay chính văn hoá Mỹ cũng chủ trương là khi con cái đã trưởng thành, thì phải dọn riêng ra khỏi nhà. Người Mỹ cho rằng, "một con chim" đến tuổi lớn mà không bay ra khỏi tổ, được xem là một sự thất bại trong việc giáo dục con cái. Gia đình, học đường và xã hội luôn giáo dục và khuyến khích điều đó. Vì thế, đưa đến hệ quả phải chấp nhận chính là tốc độ gia tăng của sự cô đơn cho người lớn tuổi...!

Thực trạng nầy không chỉ xảy ra riêng ở nước Mỹ mà còn tăng vọt rất nhiều ở các nước phát triển, do sự gia tăng của tuổi thọ trung bình. Con người ta ngày nay sống thọ hơn so với người của thế kỷ trước nhờ vào sự phát triển của khoa học, y khoa, cũng như tiện nghi vật chất do kỹ thuật đưa đến. Mặt trái của việc sống lâu chính là sự cô đơn của tuổi già. Tình trạng cô đơn ấy, khi kéo dài lại có ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của người cao tuổi.

Nói một cách an ủi, tất cả chúng ta, ai rồi cũng sẽ già hơn theo ngày tháng. "Có tuổi" là giai đoạn không thể tránh khỏi của vòng đời mà ai cũng sẽ đi qua. Thích hay không thích, ta không thể thờ ơ hay chối bỏ, mà nên chuẩn bị những phương cách để đáp ứng với tình huống cô đơn sẽ tới.

Tình trạng cô đơn bắt nguồn từ những cô lập, tách rời với những người thân trong gia đình, bạn bè. Sự cô lập ấy có thể bắt nguồn từ chính nội tâm mà cũng đến từ các yếu tố bên ngoài qua sự tương tác của hai phía, trong và ngoài. Đa số những người nghỉ hưu, sau một thời gian đi chơi đây đó, sẽ trở về với sự cô đơn buồn chán. Đó là những người may mắn, có điều kiện tài chánh. Riêng những người sống ở những nơi hẻo lánh, hay không có nhiều tiền của, sự đau khổ càng nhiều hơn. Ngoài ra, các nguyên nhân khác như nghiện ngập, không chăm sóc sức khoẻ, vệ sinh cá nhân, ăn uống không điều độ, cũng làm cho sự cô đơn tăng cao bội phần.

Hệ quả tai hại của tình trạng cô đơn là sự rối loạn về tâm thần, về tri thức, cũng như trầm cảm phiền muộn kinh niên, và cuối cũng là những ảnh hưởng đáng tiếc đến tình trạng sức khoẻ. Một nghiên cứu cho thấy trong số những người chết vì bệnh tim, 15% người có bệnh trầm cảm mản tính. Như thế cô đơn có thể gây ra trầm cảm và dẫn đến tử vong vì bệnh tim mạch.

Thế thì phải làm những gì để chống lại sự cô đơn.?

Xã hội Tây Phương, con cái lớn mà còn sống với cha mẹ được xem là điều xấu hổ so với "thiên hạ". Gần đây, do tình trạng kinh tế, theo thống kê, gần như 50% thanh niên thuộc thế hệ “millenium”, 20 đến 30 tuổi, vẫn còn sống chung với cha mẹ. Thế hệ mà bà Clinton gọi là "những người sống bám ở nhà hầm của cha mẹ" (dwellers living in their parents’ basement). Thật ra, định kiến nầy cần phải điều chỉnh cho thích hợp. Người lớn nên sẵn lòng giúp đỡ, khi con cái phải dọn về ở chung, ngược lại, người trẻ cũng nên hiểu, chăm sóc cho cha mẹ lớn tuổi cũng là một nghĩa cử đáng quý.

Cho dù con cái không ở gần mình, hay nếu không có con cái, người đứng tuổi nên kết thân, làm bạn với những người trẻ tuổi. Có bạn trẻ sẽ giúp cho tinh thần thoải mái và trẻ trung hơn. Đó cũng là lý do ngày xưa, các cụ sống gần con cháu, đa số sống thọ hơn. Nói rộng ra, không những là bạn trẻ, mà nên kết bạn càng nhiều càng tốt. Sự giao tiếp xã hội, quen biết nhiều người, bao giờ cũng có lợi hơn là có hại. Những phương tiện như Facebook, Twitter, cũng có lợi nếu biết xử dụng như một công cụ, miễn đừng để nghiện ngập chúng, hay ganh đua, đàm tiếu với những người bạn ảo.

Ngoài ra, không riêng gì kết bạn với người, kết bạn với thú vật, như nuôi chó, nuôi mèo, nuôi chim cá… cũng làm giảm nguy cơ bị bệnh tật và gia tăng tăng tuổi thọ.

Gần đây ở Mỹ lại có những dịch vụ truyền máu từ người trẻ cho người già với giá $8,000 dollar một bịch máu, dựa trên một vài nghiên cứu cho thấy máu của người trẻ khi truyền cho người già có thể làm tăng tuổi thọ vì nhờ khả năng chuyên chở oxygen cao hơn của hồng huyết cầu trẻ. Cho dù lý thuyết nầy có đúng đi chăng nữa, sau khi tiếp máu, hồng huyết cầu chỉ sống độ 3 tháng là nhiều, và lại cần tiếp tục truyền máu mới, chưa kể những nguy hiểm của việc truyền máu. Để tăng khả năng chuyên chở oxygen, ta chỉ cần tăng cường vận động, mà theo nghiên cứu mới nhất, chỉ cần 20 phút mỗi ngày, 3 lần mỗi tuần là đủ. Tập thể dục, khiêu vũ, cũng là phương cách hữu hiệu để chống lại sự cô đơn.

Về công ăn việc làm, có thể vì lý do kinh tế suy thoái trong 8 năm qua, rất nhiều người thuộc thế hệ "baby boomers", sanh từ năm 1946 đến 1964, đã và sẽ dự trù làm việc qua tuổi hưu trí. Làm việc bán thời gian, "vừa chơi vừa làm" cũng giúp cho ta tránh cô đơn, miễn là công việc không tạo nên những áp lực không cần thiết. Nếu có điều kiện, và đã nghỉ hưu, nên đi làm việc thiện nguyện.

Một yếu tố khác đáng lý ra phải nói "đầu tiên", là chuyện tiền bạc. Thực tế bao giờ vẫn vậy, có tiền thì có được nhiều vật chất, kể cả sức khoẻ. Nên để dành tiền đủ khi lớn tuổi, nhưng cũng không nên để dành quá nhiều cho con cái sau khi mình ra đi. Khuynh hướng của người Á Đông kể cả người Việt chúng ta là làm lụng cả đời, dành dụm, không dám tiêu xài, để của lại cho con. Nói ra thì sợ là mình ích kỷ, nhưng nên tiêu xài cho chính mình trước, vì đồng tiền để lại, quá dễ dàng, có khi chỉ làm hư hại con cháu mà thôi.

Cuối cùng, không nên quên thường xuyên đi khám bác sĩ để được kiểm tra sức khoẻ. Sau 60 tuổi, tình trạng sức khoẻ có thể biến đổi rất nhanh, trong vòng 6 tháng.

Trên đây là những điều… tự khuyên, tự nhủ lẫn nhau. Ai nuôi con cũng muốn con tự lập được, đủ lông đủ cánh mà bay. Con cái lớn phải rời xa cha mẹ. "Nhà trống ba gian, một thầy, một cô, và một con chó cái" là tình trạng gia cảnh của đa số vợ chồng lớn tuổi ở các nước phương Tây, trong đó có những gia đình người Việt chúng ta.

LỊCH SỬ - AI VI PHẠM HIỆP ĐỊNH GENẺVE (20-7-1954)?


Ông Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng của chính phủ VNDCCH và tướng Pháp Henri Delteil, quyền Tổng Tư lệnh Liên Hiệp Pháp ở Đông Dương, ký Hiệp định Geneve ngày 20/7/1954

Gần đây, nhân chuyện phim The Vietnam War ra mắt, có nhiều người bàn luận sôi sổi. Có người còn đặt câu hỏi ai đã vi phạm hiệp định Genève để đưa đến chiến tranh?

Hiệp định Genève ngày 20-7-1954 chia hai Việt Nam ở vĩ tuyến 17. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) ở phía bắc, thường được gọi là Bắc Việt Nam (BVN). Quốc Gia Việt Nam (QGVN), đổi thành Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) ngày 26-10-1955, ở phía nam, thường được gọi là Nam Việt Nam (NVN).

1.- HIỆP ĐỊNH GENÈVE KHÔNG ĐỀ CẬP THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC

Danh xưng chính thức đầy đủ của hiệp định Genève về Việt Nam là Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, được viết bằng hai thứ tiếng Pháp và Việt, có giá trị như nhau. Ngoài Pháp và VNDCCH tức Việt Minh, các nước khác cùng ký vào hiệp định Genève còn có Anh, Liên Xô, Trung Cộng, Lào, Cambodia. Hai chính phủ QGVN và Hoa Kỳ KHÔNG KÝ VÀO BẢN HIỆP ĐỊNH NẦY.

Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam gồm có 6 chương, 47 điều, chỉ là một hiệp định có tính cách thuần tuý quân sự, hai bên ngưng chiến đấu, rút quân về vị trí chỉ định trong hiệp định, thời biểu rút quân… Hiệp định không đưa ra một giải pháp chính trị nào cho tương lai Việt Nam, nghĩa là hoàn toàn không đề cập đến chuyện tổng tuyển cử thống nhứt đất nước.

Gần một năm sau, thủ tướng QGVN Ngô Đình Diệm tuyên bố trên đài phát thanh Sài Gòn ngày 6-7-1955 rằng chính phủ QGVN không ký các văn kiện Genève nên không bị ràng buộc phải thi hành hiệp định nầy. Chính phủ QGVN không phản đối nguyên tắc tổng tuyển cử, nhưng không có bằng chứng cho thấy VNDCCH đặt quyền lợi quốc gia lên trên quyền lợi Quốc tế Cộng sản. (John S. Bowman, The Vietnam War, Day by Day, New York: The Maillard Press, 1989, tr. 17.)

Ngày 19-7-1955, thủ tướng VNDCCH là Phạm Văn Đồng gởi thư cho thủ tướng Ngô Đình Diệm yêu cầu mở hội nghị hiệp thương bắt đầu từ ngày 20 -7-1955, như đã quy định trong hiệp định Genève ngày 20-7-1954, để bàn về việc tổng tuyển cử nhằm thống nhứt đất nước. Ngày 10-8-1955, thủ tướng Ngô Đình Diệm bác bỏ đề nghị của Phạm Văn Đồng, và xác nhận lại chủ trương của chính phủ QGVN đã được đưa ra ngày 6-7-1955. Quốc Gia Việt Nam được đổi thành Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) ngày 26-10-1955.

Tuy chính phủ VNCH nhiều lần từ chối, thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng vẫn nhắc lại đề nghị này hằng năm vào các ngày 11-5-1956, 18-7-1957, và 7-3-1958, nhằm chứng tỏ VNDCCH quan tâm đến chuyện thống nhứt đất nước, và tuyên truyền với các nước trên thế giới. Lần cuối, tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm, bác bỏ đề nghị của Phạm Văn Đồng vào ngày 26-4-1958.

Hiệp định Genève hoàn toàn không đề cập đến chuyện tổng tuyển cử thống nhất đất nước, nên luận điệu của VNDCCH cho rằng VNCH không hiệp thương để tổng tuyển cử, vi phạm hiệp định Genève, là LUẬN ĐIỆU VU CÁO TRẮNG TRỢN. Luận điệu vu cáo nầy được cộng sản lập đi lập lại nhiều lần, cho đến ngày nay trong nước vẫn còn tồn tại luận điệu vu cáo nầy.

2.- VIỆC TỔNG TUYỂN CỬ ĐƯỢC ĐỀ CẬP TRONG BẢN TUYÊN BỐ KHÔNG CHỮ KÝ

Sau khi Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam cùng các hiệp định đình chỉ chiến sự ở Lào và Cambodia được ký kết, các phái đoàn tham dự hội nghị Genève họp tiếp vào ngày 21-7-1954, nhằm bàn thảo bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương”.

Bản tuyên bố gồm 13 điều; quan trọng nhứt là điều 7, ghi rằng: “Hội nghị tuyên bố rằng đối với Việt Nam, việc giải quyết các vấn đề chính trị thực hiện trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sẽ phải làm cho nhân dân Việt Nam được hưởng những sự tự do căn bản, bảo đảm bởi những tổ chức dân chủ thành lập sau tổng tuyển cử tự do và bỏ phiếu kín. Để cho việc lập lại hòa bình tiến triển đến mức cần thiết cho nhân dân Việt Nam có thể tự do bày tỏ ý nguyện, cuộc Tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7-1956 dưới sự kiểm soát của một Ban Quốc tế gồm đại biểu những nước có chân trong Ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế đã nói trong Hiệp định đình chỉ chiến sự. Kể từ ngày 20-7-1955 những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng sẽ có những cuộc gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó.” (Thế Nguyên, Diễm Châu, Đoàn Tường, Đông Dương 1945-1973, Sài Gòn: Trình Bày, 1973, tr. 53. Bản Pháp văn: google.com.fr., chữ khóa: Déclaration finale de la Conférence de Genève en 1954).

Chủ tịch phiên họp là Anthony Eden (ngoại trưởng Anh) hỏi từng phái đoàn, thì bảy phái đoàn là Anh, Pháp, Liên Xô, Trung Cộng, VNDCCH, Lào và Cambodia trả lời miệng rằng “đồng ý”. Tất cả đều trả lời miệng, không phái đoàn nào ký tên vào bản tuyên bố, nghĩa là BẢN TUYÊN BỐ KHÔNG CÓ CHỮ KÝ.

Đây chỉ là lời tuyên bố (déclaration) của những phái đoàn, có tính cách dự kiến tương lai Việt Nam. Một văn kiện quốc tế không có chữ ký, thì không thể là một hiệp ước, vì không ai ký tên cam kết để thi hành những điều đã cùng nhau thỏa ước (nên mới gọi là hiệp ước). Bản tuyên bố không chữ ký chỉ có tính cách gợi ý, hướng dẫn mà thôi. Hơn nữa, những hiệp định với đầy đủ chữ ký mà còn bị CSVN vi phạm trắng trợn, huống gì là một bản tuyên bố không chữ ký? (Ở đây xin đưa ra một ví dụ đơn giản: hai người nam nữ tuyên bố kết hôn mà không ký kết hôn ước thì có hợp pháp hay không?)

Phái đoàn QGVN và phái đoàn Hoa Kỳ không ký vào Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam ngày 20-7-1954 và cũng không đồng ý bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương” ngày 21-7-1954. Hai phái đoàn QGVN và Hoa Kỳ đã đưa ra tuyên bố riêng của mỗi phái đoàn để minh định lập trường của mình.

Chính phủ QGVN dưới quyền quốc trưởng Bảo Đại và thủ tướng Ngô Đình Diệm thi hành đúng đắn hiệp định Genève ngày 20-7-1954, tập trung và rút toàn bộ lực lượng QGVN về miền Nam vĩ tuyền 17 đúng thời hạn và đúng theo quy định của hiệp định Genève. Điều nầy chẳng những báo chí lúc bấy giờ đã trình bày, mà cho đến nay, không có tài liệu nào cho thấy là chính phủ QGVN đã vi phạm hiệp định Genève.

Riêng bản” Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève …” ngày 21-7-1954 không có chữ ký, không ai ký tên cam kết sẽ thi hành, chỉ có tính cách khuyến cáo mà thôi, nên không bắt buộc VNCH phải thi hành. Vì vậy, cũng KHÔNG THỂ VU CÁO VIỆT NAM CỘNG HÒA VÀ TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM không thi hành hiệp định Genève, rồi động binh gây chiến.

3.- AI VI PHẠM HIỆP ĐỊNH GENÈVE?

Muốn biết ai vi phạm hiệp định Genève, xin trở lại thời gian hội nghị Genève. Hội nghị khai mạc ngày 8-5-1954, kéo dài cho đến ngày 21-7-1954, có thể chia thành hai giai đoạn: giai đoạn thứ nhứt từ ngày 8-5 đến ngày 20-6-1954; giai đoạn thứ hai từ ngày 10-7-1954 đến ngày 21-7-1954.

Giữa hai giai đoạn là thời gian 20 ngày tạm nghỉ để các phái đoàn về nước tham khảo và nghỉ ngơi. Trong thời gian nầy, xảy ra ba sự kiện quan trọng: 1) Tại Pháp, Mendès France được cử làm thủ tướng ngày 17-6-1954. Ông hứa hẹn với dân chúng Pháp sẽ giải quyết vấn đề Đông Dương trong vòng bốn tuần lễ, và sẽ ký kết hiệp ước đình chiến chậm nhứt là ngày 20-7-1954, nghĩa là Pháp dứt khoát rời bỏ Việt Nam. 2) Tại Việt Nam, Ngô Đình Diệm được quốc trưởng Bảo Đại đề cử giữ chức thủ tướng QGVN. Ông Diệm nhận chức ngày 7-7-1954, thường được gọi là ngày “Song thất”. 3) Thủ tướng và là trưởng phái đoàn Trung Cộng tại hội nghị Genève, Châu Ân Lai về nước trong thời gian nghỉ họp, mời Hồ Chí Minh (HCM), chủ tịch VNDCCH, bí mật gặp nhau tại Liễu Châu thuộc tỉnh Quảng Tây (Trung Hoa), từ ngày 3 đến ngày 5-7-1954. Lúc đó, dư luận thế giới hoàn toàn không hay biết đến hội nghị quan trọng nầy.

Hội nghi Liễu Châu giữa Châu Ân Lai và HCM diễn ra từ ngày 3 đến ngày 5-7-1954, tức trước khi hiệp định Genève được ký kết. Tháp tùng theo HCM có Võ Nguyên Giáp và Hoàng Văn Hoan. Vào họp, Châu Ân Lai báo cho phái đoàn Việt Minh biết có ba cách để đối phó với tình hình mới: 1) Thượng sách là hòa. 2) Trung sách là đánh rồi hòa. 3) Hạ sách là đánh tiếp.

Châu Ân Lai khuyên HCM và Việt Minh chấp nhận thượng sách là hòa để tránh mở rộng chiến tranh, vì nếu mở rộng chiến tranh, Hoa Kỳ có thể can thiệp. Theo Châu Ân Lai, Việt Minh nên giải quyết riêng chuyện Việt, Miên, Lào, đồng thời chia hai Việt Nam ở khoảng vĩ tuyến 16. Với kinh nghiệm Trung Cộng qua chiến tranh Triều Tiên, Châu Ân Lai khuyên HCM không nên đòi hỏi thái quá, khiến Pháp sẽ ở vào thế phải nhờ Hoa Kỳ can thiệp. Cũng theo Châu Ân Lai, trong trường hợp Hoa Kỳ can thiệp vào chiến tranh Việt Nam, với binh lực hùng hậu, Hoa Kỳ có thể lật ngược tình thế như trong chiến tranh Triều Tiên trước đây. Như vậy, theo Châu Ân Lai, Việt Minh sẽ đuổi được kẻ địch yếu (Pháp), nhưng lại rước kẻ địch mạnh (Hoa Kỳ). Hơn nữa, cũng theo Châu Ân Lai, Việt Minh nên giúp thủ tưóng Mendès-France để ông ta không bị quốc hội Pháp lật đổ. Nếu Mendès France không thành công, chính phủ Mendès France sẽ bị lật đổ, thì có thể bất lợi cho phía cộng sản. (Tiền Giang, Châu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Châu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, bản dịch của Dương Danh Dy, tựa đề là Vai trò của Châu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 “Hội nghị Liễu Châu then chốt”. Nguồn: Internet).

Châu Ân Lai còn bàn thêm rằng sau khi chia hai Việt Nam, Việt Minh rút quân về phía Bắc Việt Nam (BVN), nhưng không có nghĩa là Việt Minh rút hết võ khí, mà võ khí nào cất giấu được, thì phân tán mà cất giấu để tránh bị phát hiện. Hồ Chí Minh và phái đoàn Việt Minh chấp nhận thi hành kế hoạch của Châu Ân Lai.

Tại hội nghị nầy, Võ Nguyên Giáp đưa ra kế hoạch là sẽ chỉ rút những người làm công tác chính trị bị lộ diện; phần còn lại thì ở lại để chờ đợi thời cơ nổi dậy. Số ở lại có thể đến 10,000 người. Việt Minh cộng sản chẳng những chôn giấu võ khí, lưu 10,000 cán bộ, đảng viên ở lại Nam Việt Nam (NVN), mà còn gài những cán bộ lãnh đạo cao cấp ở lại NVN như Lê Duẩn, Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ, Cao Đăng Chiếm… (Huy Đức, Bên thắng cuộc, tập I: Giải phóng, New York: Osinbook, 2012, tt. 271-273).

Sau hội nghị Liễu Châu, trong báo cáo của HCM tại hội nghị Ban chấp hành Trung ương đảng Lao Động ngày 15-7-1954, HCM chỉ nhắc sơ là có gặp và trao đổi với thủ tướng Châu Ân Lai. Việt Minh không công khai loan báo kế hoạch của Châu Ân Lai cũng như kế hoạch mai phục cán bộ ở lại miền Nam của Võ Nguyên Giáp để chờ đợi thời cơ nổi dậy. Lý do đơn giản là nếu công khai, thì sẽ bị lộ ra âm mưu vi phạm hiệp định Genève. Về sau, khi ấn hành lại bản báo cáo nầy trong Hồ Chí Minh toàn tập tập 7, Nxb Chính Trị Quốc Gia, thì ban biên tập chỉ chú thích sơ lược cuộc gặp gỡ ở cuối trang 315.

Về phía Châu Ân Lai, sau khi hội nghị Genève kết thúc ngày 21-7-1954, thì Trung Cộng mới đăng lên Nhân Dân Nhật Báo ở Bắc Kinh ngày 8-8-1954 bản “Tuyên bố về cuộc hội đàm Trung-Việt của chính phủ Trung Quốc”, được dịch nguyên văn như sau:

Thủ tướng nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa Châu Ân Lai và chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh đã cử hành hội đàm tại biên giới Trung-Việt từ ngày 3 đến ngày 5 tháng 7 năm 1954. Thủ tướng Châu Ân Lai và chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao đổi ý kiến đầy đủ về vấn đề khôi phục hòa bình tại Đông Dương và các vấn đề có liên quan khác. Tham gia hội nghị còn có: Hoàng Văn Hoan, đại sứ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tại Trung Quốc và Kiều Quán Hoa, cố vấn đoàn đại biểu nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa tại hội nghị Genève.” (Tiền Giang, sđd., bản dịch đã dẫn, chương: “Hội nghị Liễu Châu then chốt”. Nguồn: Internet) Bản tuyên bố nầy cũng chỉ xác nhận có cuộc hội họp giữa Châu Ân Lai và HCM mà không đề cập đến nội dung chi tiết, như việc chôn giấu võ khí, hay cài cán bộ ở lại NVN.

KẾT LUẬN

Như thế, rõ ràng trong khi chính phủ QGVN rồi VNCH tôn trọng hiệp định Genève, thi hành nghiêm túc tất cả những quy định trong hiệp định Genève, thì nhà nước VNDCCH đã có kế hoạch vi phạm hiệp định, ngay từ trước khi hiệp định được ký kết và cả sau khi hiệp định được ký kết. Đặc biệt VNDCCH vi phạm hiệp định có “biên nhận” do Trung Cộng cung cấp.

Năm 1973, chuyện vi phạm hiêp định Paris lại tái diễn. Do đó, chẳng những “đừng tin những gì cộng sản nói” (lời tổng thống Nguyễn Văn Thiệu), mà còn đừng tin những gì cộng sản viết, và cũng đừng tin những gì cộng sản cam kết, dù cam kết trên giấy tờ như hiệp định Genève.

LỊCH SỬ - DÂN MIỀN BẮC DI CƯ VÀO NAM NĂM 1954.

Hội nghị Geneva năm 1954 không phải được nhóm họp sau ngày sự kiện Điện Biên Phủ chấm dứt, mà nó đã được triệu tập từ trước rồi (từ ngày 26 tháng 4). Mục tiêu của hội nghị ban đầu không phải bàn về Việt Nam mà bàn về chiến tranh Cao Ly (Triều Tiên). Việc bàn về Việt Nam vào ngày 8 tháng 5 mới bắt đầu và không phải là chính. Nhưng vì tình hình tại Việt Nam thay đổi: biến cố, trận chiến Điện Biên Phủ chấm dứt nên người ta họp vào ngày đó.

Thứ hai, sách trong nước thường ca ngợi đó là chiến thắng của phía Việt Minh. Điều đó không hoàn toàn đúng, vì nếu chúng ta theo dõi những gì xảy ra trước đó khi ông Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp sang họp với Chu Ân Lai ở Liễu Châu, người ta thấy phía Việt Minh tức tối lắm. Sau này ông Võ Nguyên Giáp có nói rằng khi ông thuyết trình thì bản đồ đưa ra nhuộm "đỏ" hết tất cả; nhưng đến khi Chu Ân Lai thuyết trình thì theo lời ông Võ Nguyên Giáp "Bác và tôi rất ngỡ ngàng" vì sự nhượng bộ mà Chu Ân Lai dành cho phía Pháp và miền Nam.

Lý do hai ông Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp không vừa ý vì hai ông tin tưởng được nhiều lợi thế hơn những gì mà phía Chu Ân Lai và Molotov (ngoại trưởng Nga lúc đó) buộc phía Việt Minh phải chấp nhận. Trước hết là sự hiện diện của bộ đội Việt Minh ở Miên và Lào. Chủ trương của Việt Minh hồi đó là muốn nâng đỡ hai tổ chức cộng sản bên Miên và Lào (Pathet Lào và Khmer Issarak). Phía đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa luôn phủ nhận không có sự hiện diện của bộ đội bên hai nước đó, nhưng cuối cùng Chu Ân Lai và Molotov ép buộc Việt Minh phải phần nào chấp nhận điều đó, và sau đó chấp nhận luôn. Có nghĩa chấp nhận đã rút rồi nhưng vẫn còn một phần ở lại bên Miên và Lào. Do vậy Pháp và phía Miên, Lào không chấp nhận nên cuối cùng chấp nhận "nếu còn sẽ rút đi".

Điểm nữa về phân chia lãnh thổ. Khi có sự chia đôi, bên phía người Pháp đề nghị vĩ tuyến 19 và phía Việt Minh muốn vĩ tuyến 13 hay ít ra là vĩ tuyến 16; nhưng cuối cùng cũng hai ông Chu Ân Lai, Molotov và phía người Pháp - Mendes France, thỏa thuận vĩ tuyến 17.

Đến chuyện ngày bầu cử thống nhất, đầu tiên Phạm Văn Đồng muốn 6 tháng, nhưng sau đó lên 1 năm và 2 năm. Quyết định cuối cùng là năm 1956, tức 2 năm sau.

Cần phải để ý là Trung Quốc trong thời điểm đó mới làm chủ được lục địa Trung Hoa và chưa có vai trò quốc tế nào nên họ muốn vai trò nào đó, và Hội nghị Geneva là cơ hội để họ đóng vai trò đó.

Việc tuyển cử được thống nhất vào năm 1956, sau đó Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa có đề nghị với phía miền Nam, nhưng miền Nam từ chối. Vì lý do sau:

Thực ra phía miền Nam mà buổi đầu là Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại và sau này là Việt Nam Cộng Hòa của ông Ngô Đình Diệm, không chấp nhận bản Tuyên bố Cuối cùng. Chúng ta nên nhớ sự thỏa thuận ở Geneva gồm hai phần: phần thứ nhất là đình chiến và phần thứ hai là chính trị. Phần đình chiến được ký kết hẳn hoi, có nhiều bản thỏa ước; còn phần chính trị không có bản thỏa ước được ký kết mà chỉ là Bản Tuyên bố Cuối cùng được các bên chấp nhận bằng miệng mà thôi.

Phía Quốc gia Việt Nam lúc đó và sau này là Việt Nam Cộng Hòa thì không chấp nhận Bản Tuyên bố Cuối cùng đó. Phía Mỹ cũng không chấp nhận. Nên nếu không chấp nhận thi hành cuộc bầu cử đó chẳng qua vì họ không bị ràng buộc về phương diện pháp lý.

Thứ hai nữa, nếu có bầu cử phải cần những điều kiện tối thiểu để có sự công bằng. Đằng này chưa chắc có sự công bằng đó, thành ra miền Nam không chấp nhận cũng có lý của họ.

Sau gần 80 năm rồi, chúng ta thấy có những bài học gì?

Trong những hoạt động bang giao quốc tế, các quốc gia luôn đặt quyền lợi của mình lên trên, kể cả đồng minh cũng đứng hàng thứ không quan trọng. Nếu bên Trung Quốc vì quyền lợi riêng mà hy sinh đồng minh là Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa thì đó cũng là điều tự nhiên mà thôi. Nhưng Hà Nội không thấy điều đó!

Thứ hai nếu nhìn vào thế giới trong thời gian đó và những năm tiếp theo, không phải chỉ có Việt Nam bị chia đôi. Còn nhiều nước khác bị chia đôi nữa nhưng không có nước nào dùng võ lực để tiến chiếm nước kia. Còn Việt Nam thì chuyện đó đã xảy ra.

Nhưng hậu quả là Hà Nội không có đủ thực lực để tự mình đánh xuống miền Nam nên phải dựa vào thế của Trung Quốc; Hà Nội và cả miền Nam đều không nhận ra điều, không biết đánh lá bài của Trung Quốc. Vì hồi đó Trung Quốc không muốn người Mỹ vào miền Nam và hiện diện tại miền Nam, họ muốn dùng người Pháp để giữ không cho Mỹ can thiệp vào Việt Nam.

Hiệp định Geneva năm 1954 được ký kết nhằm giúp chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam và cả Đông Dương. Thế nhưng mục tiêu đó đã không đạt được; trái lại chiến tranh lại diễn ra suốt trong mấy mươi năm sau đó, ngăn chặn sự phát triển của Việt Nam về mọi mặt.

Thứ Năm, 10 tháng 8, 2023

BÚN TƯƠI QUÊ TÔỊ



BÚN TƯƠI QUÊ TÔỊ

Người xứ Huế chúng tôi thích ăn bún hơn các món khác. Vì vậy, nghề làm bún được phát triển rộng khắp, làng xã nào cũng có một vài lò bún, đủ cung cấp trong địa phương. Nghề làm bún thủ công không cần nhiều vốn liếng, dễ học việc, nguyên vật liệu thô sơ như cối xay bột, cối chày, soong nồi, củi đun...
Nhắc đến Bún làng Vân, ký ức tuổi thơ của cậu bé học lớp Năm (Cô Tâm), 10 tuổi học xong lớp Nhất (Thầy Sung) trường Tiểu học Trần quốc Toản, Thành Nội-Huế. Chương trình Tiểu học thời kỳ này không còn kéo dài 6 năm như trước đó, vẫn là các lớp Năm, Tư, Ba, Nhì, Nhất, song không còn kỳ thi Sơ học Yếu lược và không còn hình thức lớp Nhì một năm và lớp Nhì hai năm nữa. Sau khi học xong chương trình lớp nhất, tôi tham dự kỳ thi Tiểu học tại trường Trung học Đồng Khánh, rồi thi tuyển vào Đệ Thất Trung học Hàm Nghi.
Suốt thời gian thơ ấu nầy tôi thường đến nhà mấy Mụ (Chị của Ôn Nội) như Mụ Ba (Mẹ các O An, Hối và Bác Ngâu...), Mụ Ngủ, Mụ Lý (Mẹ của O Điếu, các Cụ Tương, Đóa...). Trong các Bà O, tôi thích nhất O Điếu, vì nhà O ở gần Trường Tiểu học Đoàn thị Điểm, nhà tôi ở Bộ Tham, Bộ Thị (gần ngã tư Âm Hồn) cách nhau hơn cây số (km). Điều đáng nói nhất ở đây, là O làm bún tươi thủ công bằng gạo làng Vân Cù. Cứ mỗi lần xuất hiện là O hỏi "thằng Xu ăn bún nước mắm không?", sau tiếng 'Dạ' tôi bưng cái trẹt có bún lá và đọi nước mắm ớt để trên hè gạch, O bỏ bún vào chén và chan nước mắm, thế là buối chiều đi học về đang đói lại có món ăn khoái khẩu, vừa ăn vừa hít hà...Viết đến đây, phải nhiều lần tôi nuốt nước miếng.
O tôi làm nghề bún từ thời nhỏ tại làng Cổ Tháp, (theo lời kể của Ba tôi, O Điếu đẹp, da trắng, tính tình dễ thương), sau về Vân Cù cũng tiếp tục làm bún, đồng thời chỉ lại cho dân trong làng...Mãi đến thập niên 40 (1940) mới chuyển về thành phố. Tôi gặp O lúc đó vẫn chưa chồng, tuối gần bốn mươi nhưng nét đẹp vẫn còn mặn mà. O Điếu thương tôi như con, khi nằm gối đầu trên đùi nghe O kể chuyện...và có lần O kể những thăng trâm trong nghề làm bún, cũng như chuyển từ làng Tháp cổ về tá túc làng Vân Cù.
Năm 1972 có dịp trở lại Huế thăm làng La Chữ (quê Ngoại), Vân Cù (quê Nội) được ăn bún làng Vân dẻo và thơm như bún của O tôi ngày nào, được nghe dân làng kể lại chuyện người con gái năm xưa.! Đó, chính là Người O thân thương của tôi.
O tôi thường nói "muốn đắt hàng thì phải có bí quyết làm sao cho con bún dẻo mà giòn, không chua mà thơm". Nhưng bây giờ xử dụng máy móc thay sức người, sợi bún không ngon bằng cách làm thủ công. Đến Huế, muốn thưởng thức bún ngon phải chịu khó đi ra thị xã Hương Trà cách Huế khoảng 10 km về phía Bắc, nơi đây mới có bún Vân Cù chính hiệu.
Hiện nay, Làng Vân Cù nằm ven con sông Bồ, thuộc xã Hương Toàn, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên Huế. Trong làng có vài trăm gia đình, nhưng khoản 3/4 thì làm nghề bún, bình quân mỗi lò sản xuất 100 kg bún/ ngày.
Người dân làng Vân thường kể chuyện về người khai sinh ra nghề làm bún như sau: “Khi số người Minh Hương tản cư, xuôi Nam theo chân chúa Tiên (Nguyễn Hoàng) vào Nam lập nghiệp, có một nhóm người đến sống chung quanh những Tháp Chàm cổ đổ nát, tạo nên làng Cổ Tháp (nay thuộc quận Phong Điền). Trong số họ, có một thiếu nữ đẹp người, lại đẹp nết được nhiều chàng thầm yêu trộm nhớ. Dân làng sống bằng nghề nông, chỉ một mình cô ấy làm bún. Trông thấy cuộc sống của cô gái thoải mái hơn, nhiều người ganh ghét, nhân lúc trong vùng bị mất mùa liên tiếp, họ tung tin mất mùa là do thần linh phạt chuyện cô gái đem “hạt ngọc” của Trời mà nghiền nát ra làm bún. Thế rồi cả làng đuổi cô ấy đi”.
Thân gái lưu lạc đến Vân Cù, được dân làng đùm bọc, từ đó nghề bún phát triển, người học nghề đông dần, tiếp nối thế hệ này sang thế hệ khác... Dân làng Vân Cù đi lập nghiệp khắp nơi, hầu hết kiếm sống nhờ nghề bún. Nhưng vì sao bún không ngon? Họ giải thích: bún Vân Cù ngon nhờ con nước sông Bồ chảy qua làng quanh năm trong xanh, ngọt mát. Nấu rượu, làm bún ngon phần lớn do nguồn nước!
Thật vậy! Bún Vân Cù chế biến dân dã vẫn cứ ngon. Không cầu kỳ, không cần thịt thà, bún chan nước mắm cá nục, cá cơm hay mắm nêm ăn không thấy chán. Bún “lá” là một tấm bún đủ một chén ăn cơm, trải trên tấm lá chuối cắt hình tròn như cái đĩa, vào mùa gặt lúa làm không đủ bán. Nhà nông không sẵn tiền thì đem thóc đổi bún. Ra chợ, bún Vân Cù bán từng thúng, từng rổ “bún con”, “bún cuộn”. Các bà đi chợ mua thứ bún này, bốc tay như bốc xôi, chấm vào nước lèo, nước mắm chanh tỏi ớt, vừa ăn vừa xuýt xoa vì cay chảy nước mắt. Ngày nay làm ra bún mẹt, bún sợi cân bán theo ký lô...
Muốn chọn bún ngon thì nhìn màu sợi bún. Màu càng trắng và trong càng dở, vì đã bị pha nhiều bột lọc (tinh bột củ sắn), ăn khó tiêu, ăn nhiều thấy ớn. Sợi bún Vân Cù thường to hơn bún nơi khác, màu trắng ngà, lấy chiếc đủa khẻ xắn là đứt rời từng khúc, mùi thơm như hương gạo mới xay. Đặc biệt ở chỗ nó phù hợp với tiệc tùng, đám giỗ, cưới hỏi vì có thể để lâu khoảng 1 ngày mà hương vị dẻo thơm không mất đi, bởi vì cách làm rất kỹ theo từng giai đoạn, đúng loại gạo, ngâm, xay, chắc lọc, hòa đúng lượng bột và nước, bỏ vào khăn xoắn vắt đều tay vào đủ độ sôi của nước, cũng như vớt ra đúng lúc không sớm hay muộn quá, đó là những điều tôi nghe O nói lúc còn nhỏ và bây chừ nhớ lại đại khái là như vậy...(Đúng, sai nhờ các bạn góp ý). Bún Vân Cù hợp với thịt bò, giò heo, cá ngừ, cá diếc, chả cá thác lác (món mặn). Hoặc khuôn đậu hủ, mì căng, tàu hủ ky, và nấm (món chay).
Bây giờ, ăn ở đâu cũng gặp thứ bún sản xuất bằng máy. Tô bún có mùi bột nêm, bột ngọt hòa quyện với nhiều gia vị. Còn bún làng Vân từ món ăn dân dã đã trở thành “đặc sản” khó tìm! Nếu là khách sành ăn, nên vào chợ Đông Ba hay ra chợ Tứ Hạ…may ra được thưởng thức bún làng Vân thứ thiệt, vừa ngon lại rẻ…


Phạm Hồng Thát. Trông đã thấy ngon rồi Đông Lợi Long nhìn đã muốn ăn, thấy phát thèm bỏ tiền mua lấy để cho em ớt chanh mắm mặn hoà thêm tỏi ngon lắm ăn riêng chẳng muốn kèm Hue Dieu Bún tươi làng Vân ăn với nước mắm ớt chỉ thiên, hay ớt sừng ở Huế. Món ăn rất mực dân dã nhưng sao mà nó ngon lạ lùng rứa đó “en ơi”! Thèm chảy nước miếng từng hồi như ri, rứa “en tề” *** yummy! Yummy 😋


Đông Lợi Long yummy yummy O Hue Dieu.! bún lá làng Vân nơi xứ O món ăn dân dã mới ra lò nhưng sao ngon quá, lừng con bún nước miếng chảy thèm mãi rứa O nước mắm thơm ngon cùng với ớt chan vào tô bún trộn ăn liền hít hà mồm mép sao cay quá thêm nữa bún vào chén cận bên.
Hue Dieu Hít hà mồm mép đỏ rực ong, nước mắt, mũi chảy tèm lem, hít ha, hít hà sao ngon quá bụng nóng quá chừng chừng vẫn thấy ngon ngon 🤤 😋🤤😋🤤 Đông Lợi Long Hít hà mồm mép hây hây đỏ nước mắt tèm lem mũi chảy dài, ngon quá ăn hoài không muốn dứt No rồi miệng cứ, muốn lai rai Hue Dieu Thuở thiếu niên Cậu Út nổi tiếng trước & sau bữa ăn cầm cờ đỏ , bụng no anh ách miệng vẫn thèm , lai rai nói nói cười cười 🤣 nhâm nhi từng món đều ngon cả* nhìn lại bàn ăn chẳng còn gì, thế mà nhìn Người vẫn thấy nhom Bây chừ nhìn lại mình xem , răng mà giống Mạ ghê rứa tề*** Đông Lợi Long 🤣🤣🤣 ăn lâu ăn mãi mang cờ đỏ no bụng nhưng sao miệng vẫn thèm ăn mãi ăn hoài ăn tuốt luốt ăn nhiều đến rứa vẫn gầy nhom🤣 Bi chừ tuổi lớn nên ăn ít lưng chén trong ngày đã thấy no sao thấy bụng to ngoài kích cỡ🤣 ngó qua dòm lại giống ai hè.?

Hue Dieu Trẻ giống Ba * Tra rồi giống Mạ không lệch tí nào *** Răng mà hay ghê rứa hí ! hí ! hì! hì! Đông Lợi Long Hue Dieu Tại răng O nói đúng như rứa hè Hue Dieu Người “dơn” khôn biết, chớ “En”Em “rọt” khôn biết là tệ hung rứa tề 🤣 “ bui” ghê! hì! hì! 😅😂🤣

Dangtam Ho Hôm nay Tâm mới biết được ông anh đây gốc Huế 😍 Đăng Tâm Ba nuôi người Bắc Mẹ nuôi là gái Huế chăm phần chăm, đi dìa miền Tây thì thăm mẹ ruột, ra tận Quảng Nôm thì ghé quê Boa. hi..hi…nên món ăn nào của 3 Miền cũng thèm hết 😋😁🥰😍 Bài hay ông anh!👍❤️ Đông Lợi Long Cảm ơn Dangtam Ho. Tớ xin tự giới thiệu... tớ đây.! trộn lẫn cả ba miền rau muống ba miền tớ lớn khôn mắm ruốc tam kỳ mùi xứ Quảng giá tươi mắm thái trộn ăn kèm bún thang Hà Nội làm mê mẩn bún mắm miền Tây quả thật ngon bún Huế năm xưa, danh Mụ Rớt ba miền gộp lại ở trong tim Dangtam Ho

Đông Lợi Long
'Merci Merci'

Dan Thu Nhìn ngon quá Đông Lợi Long Ở Võ Lâm có lò bún tươi thơm lắm, DT ghé mua mua, ăn thử có ngon không? Dan Thu Đúng rồi anh ..ở đây họ làm bún tươi với tôm với muối ớt ..họ bỏ nước trụng bún vào ăn cũng ngon..ở xa nhớ món ăn quê hương Đông Lợi Long Vui🤤 Tươi😋Mọi người cùng🤤😋🤤 bún tươi tôm muối ớt trụng nước bún vào ăn món ăn tuy dân dã vừa miệng lại thấy ngon quê hương là bầu sữa ngọt nuôi con khôn lớn mỗi ngày quê hương là đường đi học dạy con hiểu biết mọi điều. Minh Loan Tran Dạ tuyệt lắm anh, em chúc anh tháng mới an lành ạ! Đông Lợi Long Cảm ơn Minh Loan Tran, Đàn chim lìa tổ buồn ray rứt tháng hạ bên nầy nắng cháy khô Bên nớ ve sầu im cất tiếng phượng hè nước chảy cuốn về mô.!
Mấy mùa xuân hạ vẫn nên thơ Em vội cài lên mái tóc thề mai phượng tựa hờ làn tóc mướt thời gian mong đợi mấy xuân hè. Nguyễn Thị Kim Ngân Bỏ vú nhớ kỹ niệm món bún tươi nước mắm ớt tỏi, làm chảy nước miếng bỏ vú nhé Đông Lợi Long Thèm lắm Ngân ơi.!
bánh hỏi bún tươi cùng bánh ướt
tráng mè giòn rụm lại thêm ngon
ớt tỏi vắt chanh pha nước mắm Chấm vào vừa miệng thấy giòn tan.


Thứ Tư, 9 tháng 8, 2023

NỖI ĐAU MẤT MẸ


NỖI ĐAU MẤT MẸ


Hôm nay mất Mẹ thật rồi.!

Tìm đâu ra được Mẹ hiền nữa đây …

Từ nay cho mãi về sau

Chỉ còn ký ức về Cha Mẹ mình


Làm sao nói hết tình yêu thương về mẹ...! Qua nỗi xót xa trong tâm chúng ta trước những giây phút mất mẹ, nỗi đau buồn nhất khi Mẹ ra đi quá đột ngột, làm chúng ta không kịp trở tay. Tuy biết rằng trong chúng ta không ai một lần tránh khỏi phút chia ly vĩnh biệt, đau đớn khi mẹ hiền đã lìa xa chúng ta vĩnh viễn. Mẹ đã cho ta tất cả. Mẹ là biểu tượng của tình thương bao la, dịu hiền, ngọt ngào, bảo bọc, lòng bao dung, tâm độ lượng. ..

Thiền sư Nhất Hạnh một lần đã nói về người mẹ trong bài thơ "Bông Hồng Cài Áo"  

Phạm Thế Mỹ phổ nhạc:

"Một bông Hồng cho em

Một bông Hồng cho anh

Và một bông Hồng cho những ai

Cho những ai đang còn Mẹ.

Đang còn Mẹ để lòng vui sướng hơn

Rủi mai này Mẹ hiền có mất đi

Như đóa hoa không mặt trời

Như trẻ thơ không nụ cười

ngỡ đời mình không lớn khôn thêm

Như bầu trời thiếu ánh sao đêm

Mẹ, Mẹ là giòng suối dịu hiền

Mẹ, Mẹ là bài hát thần tiên

Là bóng mát trên cao

Là mắt sáng trăng sao

Là ánh đuốc trong đêm khi lạc lối

Mẹ, Mẹ là lọn mía ngọt ngào

Mẹ, Mẹ là nải chuối buồng cau

Là tiếng dế đêm thâu

Là nắng ấm nương dâu

Là vốn liếng yêu thương cho cuộc đời

Rồi một chiều nào đó anh về nhìn Mẹ yêu, nhìn thật lâu

Rồi nói, nói với Mẹ rằng 'Mẹ ơi, Mẹ ơi, Mẹ có biết hay không?'

Biết gì ? Biết là, biết là con thương Mẹ không ?

Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó anh

Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó em

Thì xin anh, thì xin em

Hãy cùng tôi vui sướng đi".

Mẹ mang nặng đẻ đau, chín tháng cưu mang, quên ăn bỏ ngủ, nơi khô con nằm, nơi ướt mẹ cam…Những lời văn về mẹ đã nằm lòng trong tận xương tủy chúng ta, và những nỗi đau của mẹ có ai chia sớt được. Mẹ đã âm thầm chịu đựng sự nhọc nhằn lẫn vui sướng khi nhìn thấy con khôn lớn trong tiếng ru êm của mẹ được Trịnh Công Sơn diễn tả qua bài: "Lời Mẹ Ru"

"Mẹ ngồi ru con đong đưa võng buồn đong đưa võng buồn

Mẹ ngồi ru con mây qua đầu ghềnh lạy trời mưa tuôn

Lạy trời mưa tuôn cho đất sợi mềm hạt mầm vun lên

Mẹ ngồi ru con nước mắt nhọc nhằn xót xa đời mình"

Qua bao ngày tháng nhìn con khôn lớn, tình yêu thương của mẹ chất chứa bao nỗi ưu tư, vui buồn lẫn lộn. Ngay từ tiếng khóc chào đời, con đã nằm trọn trong vòng tay âu yếm của mẹ, mẹ bao trùm cả cuộc đời con từ lúc lọt lòng, dòng sữa ngọt lịm của mẹ cho con hơi thở nhịp nhàng trong tiếng khóc chào đời, từng muỗng cơm, ngụm nước mẹ chăm bón cho con. Tiếng cười của con là niềm vui của mẹ, giọt nước mắt của con là nỗi đau của mẹ được Lâm Thái Hiền kết ý thành thơ trong bài: "Mẹ Hiền".

"Dòng sữa ấm ngọt thơm, lời ru bao dịu êm

Vòng tay bao ân cần trao hơi ấm

Mẹ thắp sáng đời con bằng yêu thương biển khơi

Bằng đôi vai gầy vì mưa gió nhiều"

Trên bước đường đời, mẹ dõi mắt trông theo từng nhịp sống trong đời con và nhắc nhở con nên người. Lời khuyên nhủ của mẹ luôn bên con từng bước đi, từng lời nói. Con thành công mẹ vui sướng, con thất bại mẹ âu lo. Mẹ luôn luôn dành cho con những giờ phút hân hoan khi con thành đạt. Từng nét vui buồn hằn trên khuôn mặt với từng nếp nhăn theo bao năm tháng. Mẹ lúc nào cũng che chở cho con của mẹ đầy đủ và no ấm. Lòng mẹ bao la tựa như biển Thái Bình được Y Vân đúc kết trong bài "Lòng Mẹ" :

"...Một lòng nuôi nấng vỗ về những ngày còn thơ

Một tình thương mến êm như tiếng đàn lời ca

Mẹ hiền sớm tối bao lời khuyên nhủ mặn mà

Khắc ghi bên lòng con trẻ muôn bước đường xa..."

Tình yêu thương mẹ đã ăn sâu tận trong tâm hồn và thể xác của chúng ta, và càng sâu đậm, rõ nét hơn khi chúng ta có gia đình, con cái cọng thêm tuổi đời....

Những nổi đau khi mất Mẹ; Chúng ta luôn thông cảm và cùng chia xẻ nổi buồn mất mác to lớn khi người Mẹ yêu kính đã vĩnh viễn ra đi...!


Lạc loài

Xứ người nửa kiếp phận lưu vong

Nhớ Mạ làm con, thêm não lòng

Kiếp sống bơ vơ kẻ mất nước

Từ nay con vẫn mãi chờ mong


Mẹ hỏi làm chi ngày trở lại

Ðể con tức tửi, khóc thương đau

Bao nhiêu đêm nhớ, nằm thao thức

Mong gặp mẹ hiền trong giấc mơ


Nhưng nay thì

Niềm nhớ Mạ, theo thời gian tắc lịm

Nay ùa về như vây kín không gian

muốn gào lên theo nhịp đập con tim

Cho sụp đổ những tinh cầu trôi dạt

Tự hủy diệt lấp xong đời đọa lạc

Sống nợ trần, mang phận bạc thương đau

Khóc cũng không dẹp tan nỗi âu sầu

Còn chi nữa hỡi niềm vui nhân thế?


Mạ đã mất, nay còn ai kể lể

Mạ không còn, hết hứa hẹn, xuân sau

Ta ở đây ngàn hối tiếc ăn năn

Chia sớt bớt những men cay hờn tủi

Nuôi ảo vọng, ngày đoàn viên sẽ tới

Quỳ bên mồ, Ba Mạ bớt cô đơn...

Người mất rồi, chẳng hứa hẹn gì hơn 

Xin cúi lạy để tạ ơn Ba Mạ


Tyler city,

Đêm buồn nhớ Ba Mạ...!