Thứ Hai, 7 tháng 8, 2023

VU LAN - BÁO HIẾU.

 


VU LAN - BÁO HIẾU.

Rằm tháng Bảy Âm lịch hằng năm, Phật giáo long trọng tổ chức "Đại lễ Vu Lan-Báo Hiếu" thật trang nghiêm, từ hình thức cho đến nội dung, nhằm mang ý nghĩa nhân văn trên bình diện tâm linh và văn hoá của con người. Lễ hội này phát xuất từ sự tích Phật giáo được ghi lại trong kinh Vu Lan Bồn.

- Vu Lan: Danh từ gọi tắt của "Vu Lan Bồn", tiếng Phạn là "Ullambana". Ullam: dịch là "treo ngược" (đảo huyền), ví cho sự thống khổ của người chết như bị treo ngược. Chữ "bồn" tiếng Phạn là "bana" tạm dịch là "cứu giúp". Như vậy chúng ta có thể hiểu từ "Vu Lan Bồn" có nghĩa là giải cứu người bị tội treo ngược.

- Báo Hiếu: Nghĩa là sự báo đáp, đền đáp công đức sinh thành dưỡng dục của người con đối với cha mẹ hiện tiền và cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp.

Theo trong kinh thì Lễ Vu Lan của Phật giáo phát xuất từ thời Đức Phật. Ngài đã dạy phương thức báo hiếu cho cha mẹ ở đời này và nhiều đời khác. Người đầu tiên tiếp nhận chính là Tôn giả Mục Kiền Liên, Ngài là một trong 10 vị đệ tử xuất chúng của Đức Thế Tôn.

Một nét đẹp trong ngày Vu Lan sau này là trong buổi lễ, có kèm theo chương trình "bông hồng cài áo". Trong buổi lễ thiêng liêng ấy:

- Nếu còn cha mẹ được cài lên ngực áo một hoa Hồng Đỏ,
- Nếu mất cha mẹ được cài lên ngực áo một hoa Hồng Trắng.
- Cha Mẹ (nếu mất một, còn một) thì cài 2 hoa Hồng, Đỏ và Trắng.

MÙA VU LAN.!

Nhân mùa báo hiếu Vu Lan
Chuông chùa buông tiếng ngân vang từng hồi
Nhớ ngày vĩnh viễn xa rồi
Lòng con quặn thắt Mẹ rời thế gian

Rã rời đội chiếc khăn tang
Biết không còn Mẹ con tan nát lòng
Đạo hiếu con vẫn chưa tròn
Ơn sâu Trời biển hết mong đáp đền

Với dòng sữa ngọt dịu êm
Mẹ ru dỗ giấc suốt đêm canh tàn
Năm canh thức suốt cà năm
Khi trời trở gió con hành suốt đêm

Dãi dầu mưa nắng triền miên
Lo từng manh áo, kiếm tiền nuôi con
Những đêm trời lạnh tiết đông
Chăn chưa đủ ấm Mẹ không có thừa

Nhà tranh trời dột nước mưa
Mẹ nằm bên ướt còn chừa bên khô
Hai vai "chồng với con thơ"
Cha đi "cải tạo" thân cò nuôi con

Chẳng hề nghĩ đến gì hơn
Chỉ mong con được lớn khôn nên người
Rồi tin sét đánh long trời
Trong tù Cha chết rụng rời héo hon

Mẹ như giây đứt lìa đờn
Lòng càng đau đớn không còn thiết chi
Một thân Mẹ góa, con côi
Thương con, Mẹ phải ngăn rơi lụy sầu

Đêm khuya bên ngọn đèn dầu
Một mình Mẹ cứ nguyện cầu lâm râm
Vào đêm lặng gió không trăng
Tiễn con, Mẫu tử cách ngăn suốt đời

Lòng thương nhớ Mẹ sao vơi.!
Mẹ ơi.! nhân nghĩa từng lời khắc sâu
Dạy con trung hiếu làm đầu
Công ơn của Mẹ biển sâu non dày

Làm sao có Mẹ được đây?
Cầu mong gần Mẹ những ngày ấu thơ
Để con tìm lại ước mơ
Đời con có Mẹ tuổi thơ ngọc ngà

Tháng ngày cứ thể trôi qua
Mỗi năm đến lễ Vu Lan con buồn
Gỡ từng tờ lịch trên tường
Nhớ ngày giỗ đến dạ buồn khó nguôi

Bao năm vẫn ở xứ người
Đời con giờ thiếu nụ cười Mẹ ơi.
Cách xa vạn dặm trùng khơi
Nấm mồ của Mẹ cuối nơi phương trời

Khói hương nhẹ tỏa khắp nơi
Làm con liên tưởng Mẹ ơi đã về
Vu Lan, Giỗ Mẹ gần kề
Đến chùa lạy Phật, nhớ vê Mẹ Cha.

Lòng con quá đỗi xót xa
Người ta có Mẹ, có Cha mình buồn
Hai hàng lệ cứ trào tuôn
Đơn thân côi cút mang luôn nỗi sầu

Đau lòng lìa chốn chôn "Nhau"
Hai phương cách trở mồ sâu Mẹ nằm
Dãi dầu mưa nắng quanh năm
Bao năm con mãi trở trăn mộ phần

Thiếu người chăm sóc ân cần
Mồ hoang Mã lạnh bất an tấc lòng
Xa quê "thủ hiếu" cầu mong
Thương Người đã khuất rủ lòng viếng thăm

Nhân ngày báo hiếu Vu Lan
Thương Cha nhớ Mẹ ruột gan bồn chồn
Lạy nầy tâm nguyện của con
Đóa hoa tươi trắng nhớ ơn sinh thành

Quê hương dân chúng oán than
Tự do dân chủ ngày càng thảm thê
Nổi buồn phải sống xa quê
Dẫu xa cách mấy sơn khê có ngày.!

Sớm mong đất nước đổi thay
Về bên phần mộ chấp tay khẩn cầu
Mẹ Cha tha tội bấy lâu
Đường xa cách trở đã lâu không về

- Trong sâu thẵm nỗi buồn của những đứa con khi không còn Cha Mẹ, mỗi dạo mùa Vu lan báo hiếu lại về…Lòng thương Cha Mẹ xót xa đoạn trường…!

MÙA VU LAN 2018



SẮC HOA NHỚ MẸ

Ba Mạ không còn, cảnh vắng thôi.!
Lòng thương yêu mạ dạ bồn chồn
Lời ru thuở ấy giờ xa vắng
Đau xót vô vàn lệ mãi rơi
Lần lữa diễn ra rồi vẫn thế
Ân tình trao gởi chẳng phai mờ
Dịu hiền Mẫu Tử nay xa cách.
Tìm lại ngày xưa mãi ngẩn ngơ.

MẪU TỬ

Mạ dạy cho con lúc tuổi thơ
Tình thâm hiền mẫu đến vô bờ
Chiều tàn bóng Mạ mờ hư ảo
Chuối chín trên cây rụng bất ngờ
Mẫu tử nhớ thương, giờ cách trở
Mạ về trong giấc, ngủ trong mơ
Bóng hình của Mạ như con tưởng
Tỉnh giấc trong lòng dạ ngẩn ngơ.

NHỚ MẠ

Mỗi lần con nhớ lệ trào tuôn
Đau xót tim con những nỗi buồn
Ký ức thuở xưa còn nhớ mãi
Thương con thân Mạ, khổ hao mòn
Một đời của Mạ đầy gian khổ
Tần tảo đêm ngày bởi các con
Mạ chẳng lúc nào thân được nghỉ
Quanh năm xuôi ngược để nuôi con

ĐẾN TRƯỜNG

Sáng sớm nay trời đã phủ sương
Mạ đưa, đi học buổi khai trường
Cho con, mở trí khai thông sáng
Chăm chỉ siêng năng để Mạ thương
Từ đó mỗi năm đà chóng lớn
Học ngoan, trò giỏi của nhà trường
Cuối năm lãnh thưởng hàng đầu lớp
Đẹp mặt song thân tỏa ngát hương.

TIẾC NUỐI

Khi đã thành công cuộc sống rồi
Mẹ Cha nhiều tuổi phải còn lo
Thời gian nghỉ dưỡng nào chưa thấy
Ly biệt khôn lường kiếp nổi trôi
Duyên nghiệp tự lòng đâu biết trước
Thế rồi ngày mạ, cách xa tôi
Làm sao níu được trong giây phút
Sinh tử kề bên khoảnh khắc thôi.!

CÀI HOA TRẮNG

Hoa trắng con cài ở ngực đây
Tim côi đau nhói mấy hôm rày
Công lao Phụ Mẫu chưa đền đáp
Ba Mạ đi rồi chỉ phút giây
Cầu nguyện mẹ cha tròn giấc ngủ
Niệm hương quỳ lạy Phật linh nầy
Trần gian vĩnh biệt đành xa cách
Từ giã người thân, phận số đây



- Cha Mẹ còn được cài lên ngực áo một Hoa Hồng Đỏ.
- Cha mẹ mất được cài lên ngực áo một Hoa Hồng Trắng.
- Cha Mẹ (nếu mất một, còn một) thì cài 2 hoa Hồng, Đỏ và Trắng.


Dangtam Ho Hoa cài áo hương bay dâng Mẹ Trắng,Đỏ đều...tô vẽ đẹp Từ Thân! Đông Lợi Long Hoa cài áo, hương bay dâng Cha Mẹ Trắng Đỏ đều tô vẽ đẹp Từ Thân Lòng con luôn, giữ đạo hiếu trong Tâm Công nuôi dưỡng trọn đời nầy ghi nhớ. Hue Dieu * Vu Lan mùa hiếu hạnh * Chúng con xin dâng lên Ba Mạ nén hương lòng kính hiếu từ Tâm ❤️🍀🥀☘️🥀🙏🙏🙏 Đông lợi Long Vu Lan mùa hiếu hạnh Phận con phải đáp đền Công ơn Người nuôi dưỡng Mới đúng đạo làm con Con dâng lên Ba Mạ Nén hương Vu Lan Bồn Với cả lòng hiếu kính Trọn đạo phận làm con

Hue Dieu
*** Xoxoxo***
Tràn đầy xúc tích , lắng sâu nỗi lòng *• 😭😢😥😓💐🌻🌸🌼🙏🙏🙏
Đông Lợi Long


TRÀN ngập nỗi buồn nơi xứ lạ
ĐẦY tràn thương nhớ kiếp tha hương
XÚC động nhớ quê chừ cô quạnh
TÍCH xưa quay lại nõa nề vương
LẮNG đọng tâm tư bao nỗi nhớ
SÂU thương Cha Mẹ đã không còn
NỖI niềm trao gởi qua năm tháng
LÒNG hiếu đạo con, lễ báo ơn.!🙏🙏🙏

Thứ Bảy, 5 tháng 8, 2023

CUỘC DI CƯ VĨ ĐẠI CHẠY TRỐN CỘNG SẢN 1954-1955

 


CUỘC DI CƯ VĨ ĐẠI CHẠY TRỐN CỘNG SẢN 1954-1955
Trong những năm đầu tiên của chế độ, khi toàn dân cùng với chính quyền bắt tay vào việc xây dựng đất nước, thì đã gặt hái được những thành quả ngoạn mục như sau:
Trước hết là việc chuyên chở và định cư cho hơn 900.000 người di cư, trong đó có gần 700.000 người Công giáo. Việc chuyên chở người di cư từ Bắc vào Nam được kế hoạch và xử dụng phương tiện chuyên chở của Pháp và Mỹ. Còn việc định cư thì hoàn toàn chỉ do tiền viện trợ của Mỹ đài thọ. Công cuộc định cư sở dĩ hoàn thành mau chóng và tốt đẹp là một phần nhờ ông Diệm đã chọn được, những vùng đất phì nhiêu rộng lớn cho dân di cư. Ví dụ như ông Diệm đã:
– Lấy đất Cái Sắn màu mỡ cấp phát cho 45.000 nông dân.
– Lấy bờ biển Bình Tuy và đảo Phú Quốc, nổi tiếng nhiều hải sản cho dân chài lưới.
– Lấy Long Khánh, Định Quán, Gia Kiệm, Hố Nai cho dân khai thác lâm sản và làm đồ mộc.
– Lấy Ban Mê Thuột và Cao Nguyên đất đỏ phì nhiêu cho dân trồng trọt hoa mầu xuất cảng.
– Lấy vùng Ngã Ba Ông Tạ, Tân Bình, Gò Vấp chung quanh Sài Gòn cho dân thương mãi và kỹ nghệ …
Nhờ tiền bạc dồi dào của Mỹ, nhờ chính quyền dành cho mọi sự dễ dàng, nhờ Tổng Thống Diệm chú tâm nâng đỡ, chẳng bao lâu người dân di cư miền Bắc đã hội nhập dễ dàng vào cuộc sống của dân miền Nam, mà trước đó họ coi là vùng đất xa lạ.
Và cũng chẳng bao lâu, đời sống dân di cư đã đi từ ổn định, đến trù phú còn hơn cả dân địa phương. Công cuộc định cư mau chóng và tốt đẹp cho hơn 900.000 người di cư, đã làm cho các quốc gia trên thế giới, nhất là Hoa Kỳ phải khâm phục. Một bác sĩ trẻ của Hải Quân Mỹ, ông Tom Dooley, một nhân vật rất mộ đạo Thiên Chúa, từng tham gia vào việc chuyên chở người Bắc di cư vào Nam, Ông nhận thấy tinh thần chống Cộng cao độ của người Thiên Chúa giáo Việt Nam, nên ông đã tình nguyện ở lại miền Nam để thực hiện nhiều công cuộc nhân đạo, viết sách ca ngợi công trình di cư và định cư, làm cho nhân dân Mỹ càng thêm kính phục Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
ĐÂY LÀ MỘT THÀNH CÔNG LỚN VỀ MẶT XÃ HỘI CỦA CHÍNH QUYỀN VNCH.

Trong những năm 1955–56. Ngoài công cuộc định cư cho dân miền Bắc, nhiều cải cách xã hội, cũng như những biến cố chính trị tốt đẹp khác, càng làm tăng thêm uy tín của ông Diệm:
– Ngày 4 tháng 4 năm 1956, Chính Phủ bắt ông Ưng Bảo Toàn, Tổng Giám Đốc thương mãi ở Bộ Kinh tế vì tội bán gạo chợ đen cho VC.
– Ngày 28 tháng 4 năm 1956, quân đội viễn chinh Pháp xuống tàu về nước.
– Ngày 13 tháng 7 năm 1956, xử tử tướng Ba Cụt, một vị lãnh tụ nghĩa quân Hòa Hảo, chấm dứt tình trạng mất ổn định tại miền Tây Nam phần.
– Ngày 21 tháng 8 năm 1956, Chính Phủ bắt ông Vũ Đình Đa và đồng bọn về tội biển thủ mấy triệu bạc của Ngân Hàng Quốc Gia.
– Ngày 26 tháng 10 năm 1956, ông Diệm tuyên bố thành lập nền Cộng Hòa.
Sau trận Điện Biên Phủ, Hiệp Định Genève được ký kết giữa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Pháp, tạm thời chia đôi Việt Nam tại vĩ tuyến 17. Hệ thống bộ máy dân sự và lực lượng quân sự của chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được tập trung ở miền Bắc, và hệ thống bộ máy dân sự và lực lượng quân sự của chính quyền Liên Hiệp Pháp được tập trung ở miền Nam, chờ ngày tổng tuyển cử tự do, dự kiến sẽ xảy ra vào ngày 20 tháng 7 năm 1956. Điều 14 phần (d) của Hiệp định cho phép người dân ở mỗi phía di cư đến phía kia, và yêu cầu phía quản lý tạo điều kiện cho họ di cư trong vòng 300 ngày sau thoả hiệp đình chiến (Điều 2), tức chấm dứt vào ngày 19 tháng 5 năm 1955.
Để giám sát thực thi hiệp định, Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến được thành lập theo điều 34 của Hiệp Định với đại diện của ba nước Ấn Độ, Ba Lan, và Canada.
Theo tuần báo Time, những người di cư vào miền Nam, đặc biệt những người Công giáo Việt Nam, cho rằng họ đã bị đàn áp tôn giáo dưới chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Cộng Sản). Nhiều người lại vì lý do chính trị : họ là những người làm việc cho Pháp, hay giới tư sản, tiểu tư sản không có cảm tình với Chính Phủ Cộng sản. Một số người là nạn nhân của cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam, bị lấy mất tài sản nên phải bỏ ra đi. Vào lúc này, các Linh Mục miền Bắc cũng đã giục giã các con chiên di cư vào Nam.
Bên phe Cộng Sản luôn tìm cách phá hoại cuộc di cư của đồng bào. Những tờ bích chương và bươm bướm do Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến in và trao cho hai bên phổ biến cho dân chúng, biết về quyền tự do di tản thì không được chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (Cộng Sản) phân phát. Hơn nữa chính Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến đã mở cuộc điều tra đơn khiếu nại của Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà về hành động "cưỡng bách di cư". Trong số 25.000 người Uỷ Hội tiếp xúc, không có ai nhận là họ bị "cưỡng bách di cư" hay muốn trở về Bắc cả, như lời tố cáo láo của phe Cộng Sản.
Ngoài những người di cư vào Nam vì lý do tôn giáo (chiếm 2/3 tổng số), số còn lại là những người thuộc khuynh hướng chính trị chống Cộng Sản. Những người có liên hệ với chính quyền Pháp hay Chính Phủ Quốc Gia. Thành phần tư sản thành thị và những gia đình nông thôn lo ngại vì chính sách cải cách ruộng đất. Thêm vào đó là những người thuộc dân tộc thiểu số, đã từng theo quân đội Pháp chống Việt Minh. Trong đó có khoảng 45.000 người Nùng vùng Móng Cái và 2.000 người Thái và Mèo từ Sơn La và Điện Biên.
TIẾN TRÌNH.
Hàng loạt tàu há mồm (landing ship) đã đón người di cư rời miền Bắc. Ngày 9 tháng 8 năm 1954. Chính phủ Quốc gia Việt Nam của tân Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, lập Phủ Tổng Uỷ Di Cư Tỵ Nạn, ở cấp một Bộ trong Nội Các với ba Nha đại diện: một ở miền Bắc, một ở miền Trung và một ở miền Nam để xúc tiến định cư.
Thêm vào đó là Uỷ Ban Hỗ Trợ Định Cư, một tổ chức cứu trợ tư nhân giúp sức. Vì không có đủ phương tiện cho những người di cư vào Nam, nên chính quyền Pháp và Bảo Đại phải kêu gọi các nước khác giúp chuyên chở và định cư. Các Chính Phủ Anh, Ba Lan, Tây Đức, Nam Hàn, Hoa Kỳ, Nhật, Phi Luật Tân, Tân Tây Lan, Trung Hoa Dân quốc, Úc và Ý hưởng ứng cùng các tổ chức Unicef, Hồng Thập Tự, Catholic Relief Services (CRS), Church World Services (CWS), Mennonite Central Committee (MCC), International Rescue Committee (IRC), Care và Thanh Thương Hội Quốc tế.
Ngày 4 tháng 8 năm 1954, cầu hàng không được nối phi trường Tân Sơn Nhất, Sài Gòn trong Nam với các sân bay Gia Lâm, Bạch Mai, Hà Nội và Cát Bi, Hải Phòng ngoài Bắc được thiết lập. Nỗ lực đó được coi là cầu không vận dài nhất thế giới lúc bấy giờ (khoảng 1200 km đường chim bay). Phi cảng Tân Sơn Nhứt trở nên đông nghẹt; tính trung bình mỗi 6 phút một là một máy bay hạ cánh và mỗi ngày có từ 2000 đến 4200 người di cư tới. Tổng kết là 4280 lượt hạ cánh, đưa vào 213.635 người.
Ngoài ra, một hình ảnh quen thuộc với người dân tỵ nạn là "tàu há mồm" (landing ship), đón người ở gần bờ rồi chuyển ra tàu lớn neo ngoài hải phận miền Bắc. Các tàu thủy vừa hạ xuống, hàng trăm người đã giành lên. Các tàu của Việt Nam, Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Trung Hoa, Ba Lan... giúp được 655.037 người "vô Nam". "Nam" được hiểu là cả dải duyên hải miền Nam Việt Nam, từ Đà Nẵng tới Vũng Tàu. Vì số người di cư quá đông, Cao Uỷ Pháp đã xin gia hạn thêm ba tháng và phía Hà Nội đã thoả thuận, nên ngày cuối cùng thay vì là ngày 19 tháng 5 được đổi thành ngày 19 tháng 8. Trong thời gian gia hạn, thêm 3.945 người đã vượt tuyến vào Nam. Chuyến tàu thuỷ cuối cùng của cuộc di cư cập bến Sài Gòn vào ngày 16 tháng 8 năm 1955.
Thêm vào đó, còn tới 102.861 người tự tìm đường bộ hoặc ghe thuyền và phương tiện riêng. Tính đến giữa năm 1954 và 1956, khoảng trên 900.000 – 1.000.000 người đã di cư từ Bắc vào Nam, trong đó có khoảng 700.000 người Công Giáo, tức khoảng 2/3 số người Công Giáo ở miền Bắc đã bỏ vào Nam.
Tất cả những thành công trong hai năm đầu của chế độ được xem như là kết quả của những nỗ lực, của một chính quyền tuy còn yếu kém về mặt quản trị, nhưng lại được một sự quyết tâm cộng tác của toàn dân. Tuy nhiên những nỗ lực này, tự nó và nếu chỉ riêng nó, cũng chưa đủ để hoàn thành việc củng cố miền Nam, nếu không có sự yểm trợ tối đa và vô điều kiện của Hoa Kỳ. Mà đặc biệt là của ba người Mỹ đã từng liên hệ chặt chẽ với ông Diệm từ trước. Đó là Hồng Y Spellman, Giáo Sư Buttinger và một nhân vật cao cấp CIA, ba nhân vật (từ đầu) đã hoán cải được quan niệm của Tổng Thống Eisenhower, vốn đã muốn bỏ rơi Việt Nam.
Trong ba nhân vật đó thì Đại tá Lansdale đóng vai trò cố vấn trực tiếp bên cạnh Tổng thống Diệm. Ông ta nổi tiếng đến độ không một nhà viết sử nào, khi nói đến sự nghiệp của ông Diệm mà không nhắc đến thân thế và hoạt động của ông ta. Đại tá Lansdale đến Đông Dương từ năm 1954, làm cố vấn phản du kích cho quân đội viễn chinh Pháp.
Ngô Đình Châu
Tất cả cảm xúc

NGÀY CỦA MẸ

 


NGÀY CỦA MẸ

"Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào ,
Tình Mẹ tha thiết như giòng suối hiền ngọt ngào ..."

Ngày Chúa Nhật thứ nhì của tháng Năm là ngày lễ Mẹ, cũng gọi là ngày Từ Mẫu, ngày chúng ta dành riêng để ghi nhớ công ơn của mẹ. Nhân dịp này chúng ta nên nghĩ đến mối quan hệ mẹ con khi con đã trưởng thành và mẹ đã cao tuổi.

- Thứ nhất khi người mẹ đã cao tuổi và con cái đã bước vào đời, tự lập, mối quan hệ giữa đôi bên là một mối quan hệ rất quý báu. Người trưởng thành khi đã đến tuổi tự lập, không phải ai cũng còn mẹ, nhưng chỉ những người may mắn mà thôi.
- Lý do thứ hai khiến tình mẹ con trong giai đoạn này của cuộc đời rất là quý, vì không phải người nào còn mẹ cũng được sống gần bên mẹ. Rất nhiều người dù mẹ còn sống nhưng vì hoàn cảnh gia đình, vì công việc không được ở gần bên mẹ.
- Lý do thứ ba khiến tình mẫu tử khi con đã lớn và mẹ đã già là mối quan hệ quý giá vì mẹ con đã cùng chia xẻ với nhau bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu buồn vui của gia đình nên dễ cảm thấy gần nhau. Vì cả hai đều là người lớn, đã kinh nghiệm về đời sống nên đây là lúc mẹ con có thể hiểu nhau, thông cảm với nhau và có thể trở thành bạn của nhau.

Lý tưởng là như thế, nhưng chúng ta hãy thử nhìn lại xem mối quan hệ giữa chúng ta và mẹ chúng ta có thật sự tốt đẹp không, đôi bên có hiểu nhau và thông cảm nhau như đáng phải có không? Nhiều người tuy đã lớn vẫn còn được diễm phúc ở gần mẹ, hoặc sống chung dưới một mái nhà với mẹ nhưng bao nhiêu người xem đó là phước hay chúng ta xem đó như là một gánh nặng mình phải chịu đựng. Tình mẫu tử là tình cảm tự nhiên và thiêng liêng, cao quý, là điều mà Đấng Tạo Hóa đã đặt trong lòng mỗi người khi con người được tạo dựng. Tuy nhiên, lắm khi chúng ta không cảm nhận được hay không thể vui hưởng tình yêu đó, vì chúng ta sống với nhau bằng tình yêu ích kỷ. Mẹ thương con bằng tình yêu ích kỷ và con cũng đáp lại mẹ bằng tình yêu ích kỷ tương tự.

Khổ nạn nhất hiện nay của đa số gia đình người Việt sống ở xứ Người là ngôn ngữ, nó chính là rào cản của mọi liên lạc, đã thông tư tưởng lẫn nhau để cùng hiểu biết nhau hơn...thêm vào đó môi trường, nếp sống đạo đức cũng như văn hóa khác biệt giữa Đông và Tây. Nền tảng xã hội phương Đông là "Gia Đình", ngược lại phương Tây là "Cá Nhân". Với những nan giải đó mà các thế hệ cha mẹ với con cái và ông bà với cháu chắc, khó mà thông cảm lẫn nhau về mọi mặt. Đã không thể trao đổi để thông cảm thì khó mà tạo dựng một mối tình cảm sâu đậm được, lắm khi tạo thêm những mâu thuẩn, gây nên sự xung đột trong gia đình giữa các thế hệ với nhau.

Con cái thương mẹ và mẹ cũng thương con cái, nhưng vì bận rộn, vì vô tình, có khi vì ích kỷ, đôi bên không biết được nhu cầu thật của nhau hay những ước mong sâu kín trong lòng. Hơn nữa, mẹ con thương nhau thật nhưng người này cứ muốn người kia làm theo ý mình chứ không chiều ý nhau nên giữa mẹ con thường hay có những đụng chạm vô lý. Một lý do khác, sâu xa hơn, khiến giữa người mẹ cao tuổi và những người con đã trưởng thành không có mối quan hệ gần gũi đậm đà, vì có những người mẹ không chấp nhận rằng con mình đã lớn, mình phải đối xử như người lớn, còn con cái thì buồn bực vì cứ bị cha mẹ xem như con nít. Cuối cùng, có những gia đình, cha mẹ và con cái được ở gần nhau, mẹ con gặp nhau thường xuyên nhưng không có mối quan hệ sâu đậm vì đôi bên còn ôm giữ những điều phiền giận trong quá khứ, còn ghi nhớ lỗi lầm của nhau ngày trước và không tha thứ cho nhau. Cay đắng, buồn giận là thứ thuốc độc giết chết nhanh chóng tình cảm chúng ta dành cho người chung quanh.

Nhân ngày Từ Mẫu hôm nay, chúng ta có những nhận xét nho nhỏ sau đây, để giúp những người con đã lớn được diễm phúc có mẹ ở gần cũng như những người mẹ đã cao tuổi còn được ở cạnh bên con, có thể vui hưởng trọn vẹn tình thương chúng ta dành cho nhau.

Con cái:
Đừng xem mẹ như là gánh nặng cho mình - đừng bực bội về những thói quen lẩm cẩm hay sự đảng trí của mẹ - đừng quên rằng những năm tháng còn mẹ rất ngắn, ngày càng rút ngắn nên cố gắng dành thì giờ cho mẹ - đừng vì công việc, gia đình, con cái hay bạn bè mà quên mẹ, bỏ quên mẹ - đừng ghi nhớ lỗi lầm của mẹ hay những tổn thương mẹ gây ra cho mình ngày trước - đừng lợi dụng tình thương của mẹ - đừng nhắc chuyện buồn cũ, nhưng thỉnh thoảng nên nhắc lại công ơn của mẹ, vì công ơn đó rất là lớn lao.

Tìm mọi cách để làm cho những năm tháng cuối cùng của mẹ được nhẹ nhàng, an vui.
Dành thì giờ lắng nghe khi mẹ có điều muốn nói.
Chăm sóc mẹ, bày tỏ lòng yêu thương, hiếu thảo đối với mẹ một cách cụ thể bằng việc làm .
Dạy dỗ và nhắc nhở con cái biết yêu thương, kính trọng bà, nói năng lễ độ với bà.
Những gì cần làm cho mẹ nên làm bây giờ, khi mẹ còn sống, vì khi mẹ qua đời rồi chúng ta có làm gì cũng quá muộn, mẹ không biết mà cũng không hưởng được.

Mẹ:
Hãy nhớ con mình đã lớn, đã có cuộc đời riêng, hãy tôn trọng con: tôn trọng ý kiến, sở thích, cách làm việc của con
Đừng xen vào đời sống gia đình con, đừng chen vào giữa vợ chồng con. Khi con đã có gia đình riêng, con là chủ gia đình của mình. Khi cần, cha mẹ chỉ góp ý kiến với con, đừng buộc con phải làm theo ý mình.
Đừng la mắng, sửa sai mỗi khi gặp con, đừng xem con như là con nít. Dù đó là con mình sinh ra nhưng bây giờ con đã lớn, đã làm cha làm mẹ, đã khôn ngoan trưởng thành, ta không còn trách nhiệm trên con nữa.
Hãy thông cảm với những bận rộn của con; đừng than van, trách móc khiến con có mặc cảm là không tròn bổn phận đối với cha mẹ.
Đừng vô tình làm cho con không muốn ở gần bên mình nữa.
Nếu đôi bên còn buồn giận nhau, vì những chuyện xưa cũ trong quá khứ, hãy tìm dịp nói ra và tha thứ cho nhau, làm hòa với nhau càng sớm càng tốt, để một ngày kia không phải ân hận vì mình đã không tha thứ cho nhau.
Có lẽ suốt hơn một tuần trước ngày lễ Mẹ, chúng ta đã nhận được đủ mọi thứ quảng cáo về những món quà chúng ta nên mua để tặng mẹ nhân ngày Mother's Day. Nhưng mua những món quà đó có lẽ chúng ta chỉ giúp cho người bán hàng được lợi chứ chưa chắc đó là điều mẹ chúng ta đang cần, đang mong ước. Món quà quý nhất chúng ta có thể tặng cho mẹ, và chắc chắn mẹ chúng ta sẽ vui nhận là tình yêu thương chân thành và lòng biết ơn sâu xa của chúng ta đối với công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ. Nếu được, chúng ta hãy viết cho mẹ một lá thư, gởi cho mẹ một tấm thiệp hoặc gọi điện thoại nói cho mẹ biết chúng ta yêu mẹ nhiều chừng nào, biết ơn mẹ biết bao nhiêu và xin mẹ tha thứ những khi chúng ta đã làm cho mẹ buồn lòng.
Trong đời sống máy móc và bận rộn này, chúng ta phải đồng ý rằng tặng cho mẹ một món quà vài ba chục bạc dễ hơn là dành cho mẹ vài ba tiếng đồng hồ nghe mẹ kể những chuyện xưa cũ. Tặng quà đắt tiền hay đưa mẹ đi ăn dễ hơn là đến xin lỗi mẹ những điều ta đã làm mẹ buồn. Nhưng tiền bạc không thể so với thì giờ quý báu ta dành cho mẹ, những món quà đắt tiền không đem lại niềm vui cho mẹ bằng những lời tâm tình yêu thương thành thật của con. Mother's Day năm nay chúng ta hãy tặng cho mẹ chúng ta những món quà mà người mong ước, để mang lại cho mẹ niềm vui sâu xa, lâu bền mà không tiền bạc nào có thể mua được...

Chúng ta đã nghe rất nhiều lời giáo huấn về đời sống trong gia đình qua nhiều sách vở cũng như trong mọi tín ngưỡng: "Thà có ít của cải mà yên tâm còn hơn là tài sản nhiều mà bối rối, lo sợ đủ điều. Thà chỉ ăn rau mà thương yêu nhau còn hơn ăn bò heo mập béo với ganh ghét cặp theo... Đứa con khôn ngoan làm vui vẻ cha, còn người ngu muội khinh bỉ mẹ mình". Xin Ơn Trên giúp chúng ta là những người khôn ngoan, biết đâu là giá trị cao quý của đời sống và biết cách cư xử đúng với các bậc sinh thành.
Chữ Hiếu được xem như một thứ tình cảm thiêng liêng và cao đẹp nhất trong các thứ tình cảm của loài người. Hiếu là chất liệu cho cuộc sống là hương thơm cho đời, là hành trang vô giá và không thể thiếu vắng ở bất kỳ người nào. Hiếu phản ánh đời sống văn hóa và đạo đức của xã hội. Hiếu phân định nhân cách, trí thức của con người. Hiếu là chất liệu sống muôn thuở. Nói đến Hiếu là nói đến cái gì cao đẹp nhất, thiêng liêng nhất đối với mọi người ...
Đây là việc làm của những người con được hạnh phúc còn có Mẹ : "Nên làm trước khi quá Trể".

Nếu bạn còn người mẹ tóc đã bạc màu
Sống âm thầm trong ngôi nhà cũ, nơi xa xăm
Bạn hãy ngồi xuống, viết thư cho mẹ
Lá thư mà bạn đã trì hoãn bao năm.
Đừng chờ đến khi bước chân bạn
Quỵ bên cổng nhà quàn

Hãy thưa: Mẹ ơi, con yêu mẹ
Trước khi quá trễ
Khi mẹ đã vĩnh viễn ra đi
Nếu bạn có những lời thương yêu
Đừng chờ đến khi quên
Hãy thì thầm vào tai mẹ
Khi mẹ còn gần bên
Đừng để những lời đó theo đuổi bạn
Vì bỏ lỡ cơ hội làm cho mẹ bình an
Những lời ngọt ngào không nói
Những cánh thư không gởi
Những tình cảm không khơi
Khiến lòng ta tan nát
Vì ân hận không thôi.

Hãy thưa với mẹ hôm nay
Con yêu mẹ từng ngày
Trước khi quá trễ
Khi Mẹ đã vĩnh viễn ra đi ...!

TÔI MẤT MẸ LÚC 11:55 TRƯA NGÀY 16-3-2012
(24-2 Nhâm thìn)
HÔM NAY NGÀY LỄ MẸ ( 10-5-2015 )
LẦN THỨ TƯ CON KHÔNG CÒN CÓ MẸ NỮA..." MẸ ƠI " !!!

KÍNH LOAN (Nhớ Mẹ ruột thắt từng cơn)