Thứ Sáu, 7 tháng 9, 2018

10 QUỐC GIA NHÓ NHẤT THẾ GIỚI


1.  Thành quốc Vatican

Đây là quốc gia độc lập nhỏ nhất thế giới, diện tích chỉ có khoảng 0,5 km2 và nằm trọn trong thành phố Rome của Italy.
Dân số của Vatican 1000 người (2017), hiện tại là 801 người vào ngày 7-9-2018, bao gồm các hồng y, các nhà ngoại giao, hiến binh, lính Thụy Sĩ và các giáo dân.
801 người vào ngày 07/09/2018 theo số liệu mới nhất từ Liên Hợp Quốc. (Nguồn: https://danso.org/thanh-vatican/)
801 người vào ngày 07/09/2018 theo số liệu mới nhất từ Liên Hợp Quốc. (Nguồn: https://danso.org/thanh-vatican/)
là 801 người vào ngày 07/09/2018 theo số liệu mới nhất từ Liên Hợp Quốc. (Nguồn: https://danso.org/thanh-vatican/)bao gồm các hồng y, các nhà ngoại giao, hiến binh, lính Thụy Sĩ và các giáo dân.
Thành Vatican, tên chính thức: Thành Quốc Vatican là một quốc gia có chủ quyền với lãnh thổ bao gồm một vùng đất có tường bao kín nằm trong lòng thành phố Roma, Ý.
Thành lập: 11 tháng 2, 1929
Dân số: 1.000 (2017)
Chính phủ Giáo triều Rôma
Giáo hoàng Phanxicô
Quốc vụ khanh Pietro Parolin
Thủ hiến Giuseppe Bertello
Thủ đô Thành Vatican (thành quốc)
Ngày thành lập Ngày 11 tháng 2 năm 1929
Ngôn ngữ chính thức: Latinh, Ý
Vatican là quốc gia có nền kinh tế "phi thương" độc nhất vô nhị trên thế giới, chủ yếu do các khoản quyên góp của người Thiên chúa giáo La Mã trên khắp thế giới và thu nhập từ bán tem, ấn phẩm, đồ lưu niệm…
  
Bản đồ của vatican 

2.  Công quốc Monaco

Monaco có diện tích chưa đầy 2 km2 (1,98 km2) và là quốc gia có chủ quyền tại châu Âu. Monaco có 3 mặt tiếp giáp với nước Pháp, mặt còn lại tiếp giáp với Địa Trung Hải. Dân số nước này theo thống kê năm 2018 là 38.935 người.
  
Kết quả hình ảnh cho bản đồ công quốc monaco

3.  Nauru

Nauru tên chính thức là Cộng hoà Nauru trước đây có tên Đảo Pleasant, là một quốc đảo thuộc Micronesia nằm ở Nam Thái Bình Dương. Nauru giành độc lập năm 1968 và là quốc đảo nhỏ nhất thế giới với diện tích 21 km2.
Dân số ước lượng năm 2018 là 11.302 người. Kinh tế nước này chủ yếu dựa vào đánh bắt cá và khai thác phốt phát.
Hình ảnh có liên quan

4. Tuvalu

Tuvalu  còn có tên khác là quần đảo Ellice, là một quốc đảo nằm ở phía Nam của Thái Bình Dương. Tuvalu nằm giữa Hawaii và Australia. Tổng diện tích của Tuvalu, bao gồm cả đảo đá ngầm, san hô và rừng rậm, khoảng 26 km2, nhỏ thứ 4 thế giới.
Theo điều tra dân số tháng 9/2018, dân số của Tuvalu là 11.307 người.
Tuvalu gồm 9 đảo san hô nằm rải rác và đông đúc dân cư. Tuy nhiên, đất đai kém màu mỡ và không có tài nguyên khoáng sản. Kinh tế nước này chủ yếu là đánh bắt cá và trồng cây lương thực. Thu nhập chính của chính phủ là từ bán tem và các đồng tiền xưa, ngoại tệ của công nhân gửi về.
  
Hình ảnh có liên quan

5. San Marino

San Marino có tên đầy đủ là Cộng hòa Đại bình yên San Marino. Đây là quốc gia độc lập nhỏ thứ 5 trên thế giới. Điều đặc biệt là San Marino nằm trọn trong Italy.
Diện tích của San Marino là 61 km2. Theo điều tra dân số năm 2018, nước này có 33.581 dân.
San Marino là nước có nền kinh tế công nghiệp, dịch vụ và du lịch phát triển. Kinh tế chủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên truyền thống (nho, đá xây dựng), phát hành tem thư và nhất là du lịch. 
Kết quả hình ảnh cho san marino

6. Liechtenstein

Công quốc Liechtenstein là một quốc gia độc lập ở Tây Âu. Diện tích nước này là 160 km2. Theo thống kê dân số năm 2018, nước này có dân số là 38.202 người.
Kinh tế của Liechtenstein chủ yếu là công nghiệp, nhưng chủ yếu là nhập nguyên liệu về gia công, chế biến. Du lịch cũng là ngành mang lại nhiều lợi nhuận cho công quốc này

 Vị trí của Liechtenstein

7. Quần đảo Marshall

Quần đảo Marshall tên chính thức là Cộng hoà Quần đảo Marshall là đảo quốc của người người Micronesia nằm ở phía Tây Thái Bình Dương, phía Bắc Nauru và Kiribati, phía Đông Liên bang Micronesia.
Diện tích của quốc đảo là 181 km2. Theo thống kê dân số tháng 9/2018 là 53.175 người. Kinh tế Marshalls dựa vào đánh bắt cá biển, du lịch và trợ cấp của Mỹ.

 Hình ảnh có liên quan

8.  Liên bang Saint Kitts và Nevis

Liên bang Saint Kitts và Nevis là một quốc đảo nằm trong quần đảo Quần đảo Leeward. Diện tích của liên bang này là 261 km2. Theo điều tra dân số tháng 9/2018, nước này có số dân là 55.944 người.
Saint Kitts và Nevis có ngành kinh tế du lịch, nông nghiệp và công nghiệp phát triển.

 Kết quả hình ảnh cho liên bang saint kitts và nevis

9. Seychelles

Cộng hòa Seychelles là một quốc đảo với 155 hòn đảo lớn nhỏ thuộc châu Phi nằm trên Ấn Độ Dương, cách 1.500 km về hướng đông của đại lục Châu Phi, nằm ở phía đông bắc đảo Madagascar.
Diện tích của đảo quốc này là 451 km2. Theo ước lượng dân số năm 2018, nước này có 95.322 người dân. Seychelles có ngành du lịch rất phát triển.

 Kết quả hình ảnh cho seychelles map

10. Maldives

Cộng hòa Maldives là một quốc đảo gồm nhóm các đảo san hô tại Ấn Độ Dương. Maldives bao vòng quanh một lãnh thổ gồm 1.192 đảo nhỏ, khoảng hai trăm đảo trong số này có các cộng đồng địa phương sinh sống.
Diện tích của Maldives là 300 km2, dân số là 445.675 (theo ước lượng năm 2018). Du lịch và đánh cá là 2 ngành kinh tế then chốt của Maldives.

Kết quả hình ảnh cho maldives map

Thứ Năm, 6 tháng 9, 2018

SÁP NHẬP "TIỀN TỆ" TRƯỚC RỒI TIẾN TỚI SÁP NHẬP " LÃNH THỖ" SAU.?

 https://baomai.blogspot.com/
Hàng trăm sạp đổi tiền Yuan công khai tại chợ đổi tiền lớn nhất Lạng Sơn ở sân vận động Đông Kinh
 
Không thế nào là một sự trùng khớp ngẫu nhiên:
- Chỉ ít ngày sau chuyến công du hai nước Ai Cập và Ethiopia của Trần Đại Quang Chủ tịch nước, vào tháng Tám năm 2018.
- Ngân hàng nhà nước Việt Nam do ông Lê Minh Hưng, con trai của cựu bộ trưởng công an Lê Minh Hương, đã bất thần ban bố một văn bản pháp quy với mức độ "Thông tư" của cơ quan này về việc cho phép 7 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam được dùng đồng Nhân dân tệ (Yuan) để thanh toán trong các hoạt động buôn bán làm ăn với Trung cộng.

Từ Zimbabwe, Ethiopia đến Việt Nam:
Ethiopia lại là "biểu tượng đầu tư của Trung cộng ở châu Phi". Thị trường Ethiopia tràn ngập hàng Trung cộng, từ quần áo đến đồ gia dụng bằng nhựa hoặc thiết bị điện tử và máy móc… Bắc Kinh được lợi rất nhiều trong chiến lược hợp tác thương mại một cách mất cân xứng này. Năm 2016, Ethiopia có kim ngạch xuất cảng sang Trung cộng đạt 88,7 triệu USD, nhưng giá trị nhập cảng lên đến 3,21 tỷ USD.
Ba năm trước khi Trần Đại Quang đến Phi châu và khi Tổng thống Robert Mugabe của một quốc gia châu Phi khác là Zimbabwe còn chưa biến thành một thứ mồ ma còn sống - hậu quả khủng khiếp của chế độ độc tài gia đình trị, nạn tham nhũng không giới hạn và tỷ lệ lạm phát không tưởng hàng tỷ phần trăm, quốc gia Nam Phi Zimbabwe đã đi tiên phong trong toàn châu Phi khi chấp nhận dùng đổng Yuan một cách chính thức trong hệ thống thanh toán nội địa để được tạm thoát khỏi một cái bẫy đã giăng sẵn: được Trung cộng xóa cho 40 triệu USD tiền nợ đáo hạn năm 2015.
Cũng vào năm 2015, một hiện tượng lạ lùng như trường hợp đã xảy ra ở Lạng Sơn - một trong 7 tỉnh vùng biên giới phía Bắc Việt Nam và là nơi buôn bán làm ăn sầm uất nhất với Trung cộng: có đến hàng trăm sạp đổi tiền Yuan công khai tại chợ đổi tiền lớn nhất Lạng Sơn ở sân vận động Đông Kinh. Cũng công khai dòng chữ “Điểm thu đổi ngoại tệ Yuan”…
Nhưng không phải đến lúc đó những chủ sạp đổi Yuan ở Lạng Sơn mới ăn nên làm ra, mà họ đã làm công việc này từ năm 2010, nghĩa là ngay vào thời gian Trung cộng bắt đầu xây dựng chính sách “Biến Yuan thành tiền tệ chính tại một nước khác sẽ thúc đẩy tiến trình quốc tế hóa nội tệ của Trung cộng”.
Kết quả rất thành công dành cho Bắc Kinh là, đi chợ Lạng Sơn tiêu tiền Trung cộng. Vào năm 2015, một ít tờ báo Việt Nam đã thuật lại rằng ở các chợ lớn của Lạng Sơn như chợ Đêm, chợ Kỳ Lừa; các chợ giáp biên giới như Tân Thanh, Đồng Đăng, Chi Ma… đều có thể dễ dàng giao dịch hàng hóa bằng đồng Yuan. Các chủ hàng buôn bán với Trung cộng sở hữu lượng Yuan rất lớn. Họ thường sang nước bạn mua hàng hóa trước khi nhập vào các chợ ở Lạng Sơn và mang về miền xuôi.
Đến năm 2017, trùng với thời điểm dự luật Đặc khu được một nhóm quan chức cao cấp Việt Nam, trong đó có cựu bí thư Quảng Ninh Phạm Minh Chính mà hiện là ủy viên bộ chính trị kiêm trưởng ban tổ chức trung ương, âm thầm hoàn chỉnh để đưa ra Quốc hội thông qua với thời hạn cho nước ngoài thuê đất đến 99 năm mà bị coi là một hình thức nhựợng địa và "bán nước" cho Trung cộng, đến lượt thành phố Hạ Long ở tỉnh Quảng Ninh bị báo chí phát hiện trở thành điểm tiêu tiền Yuan công khai cùng số lượng lớn bởi du khách Trung cộng.
Sau Hạ Long là Nha Trang và cả Đà Nẵng - những phố Tàu nhan nhản mọc lên từ Bắc chí Nam trên rẻo đất hình chữ S…
Về thực chất, "đường lưỡi bò" của Trung cộng không chỉ phát huy tác dụng của nó bằng hàng trăm ngàn bản đồ nước này được bày bán khắp thế giới, bằng hàng chục ngàn tàu cá và tàu hải giám liên tục quần thảo trên Biển Đông, mà còn trên đất liền bởi cuộc xâm lăng của đồng Yuan khi đánh bạt đồng tiền Việt Nam ở khu vực biên giới - nơi mà vào năm 1979 quân đội Trung cộng đã bị thất bại thê thảm trong một chiến dịch xâm lăng bằng quân sự.

Ai chỉ đạo?
Cũng có thể chẳng là một sự trùng khớp ngẫu nhiên, Thông tư "Nhân dân tệ hóa biên giới phía Bắc" của Ngân hàng nhà nước phát sinh ngay sau chuyến công du của Trần Quốc Vượng - Thường trực Ban bí thư - sang Bắc Kinh vào cuối tháng Tám năm 2018, trong đó có cuộc gặp Tập Cận Bình với vai trò "Tớ đi nhận chỉ thị của Chủ".
"Nhân dân tệ hóa vùng biên giới phía Bắc" là một chính sách lớn không chỉ liên quan đến an ninh tiền tệ mà cả về quốc phòng của Việt Nam, không thể chỉ được quyết định bởi một ủy viên trung ương đảng như Thống đốc Ngân hàng nhà nước Lê Minh Hưng, mà phải được lệnh từ những cấp cao hơn hẳn ông Hưng.
Vậy phải chăng việc dùng đồng Yuan để thanh toán ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam là một trong những cam kết nằm trong các văn kiện mà Nguyễn Phú Trọng đã ký kết với Tập Cận Bình, và nhiều khả năng Tập Cận Bình đã vừa ‘nhắc nhở’ Trần Quốc Vượng vào tháng Tám năm 2018 để ông Vượng về truyền đạt lại cho ông Trọng phải thực hiện gấp cam kết trên?
Hoàn toàn có thể xem chỉ đạo trên, nếu quả đúng như thế, là bước hợp thức hóa cho thực tế đồng Yuan đã được lưu hành và thanh toán tràn lan ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam trong hàng chục năm qua, bất chấp Pháp lệnh Ngoại hối và các nghị định, thông tư hướng dẫn quy định rằng trên lãnh thổ Việt Nam, trừ các trường hợp được xử dụng ngoại hối quy định, còn lại mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác (bao gồm cả quy đổi hoặc điều chỉnh giá hàng hóa, dịch vụ, giá trị của hợp đồng, thỏa thuận) của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối.
Dù luôn bị các cơ quan ‘có trách nhiệm’ Việt Nam giấu biến, nhưng con số về giá trị buôn bán tiểu ngạch hàng năm giữa Việt Nam và Trung cộng vẫn được một vài chuyên gia nêu ra: từ 20 đến 30 tỷ USD.
Cũng có nghĩa là mỗi năm Việt Nam bị chảy máu ngoại tệ từ 20 đến 30 tỷ USD sang Trung cộng, để cộng với giá trị nhập siêu của Việt Nam từ 25 đến 30 tỷ USD theo đường chính thức song phương thương mại với Trung cộng, tổng giá trị nhập siêu mỗi năm của Việt Nam từ Trung cộng phải lên đến trên 50 tỷ USD.
Riêng trong cơ chế xuất hàng tiểu ngạch, doanh nghiệp và doanh nhân Việt Nam đương nhiên phải nhận thanh toán bằng Yuan. Nhưng khi Việt Nam nhập cảng, liệu các doanh nghiệp và doanh nhân Trung cộng có chịu nhận đồng tiền Việt Nam hay đòi phải thanh toán bằng USD - tức vẫn tái diễn tình trạng chảy máu USD?
Dấu hỏi rất lớn trên đã chưa bao giờ được các bộ ngành chức năng của Việt Nam - từ Ngân hàng nhà nước đến Bộ Công thương và Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng các chính quyền các tỉnh biên giới phía Bắc - làm rõ. Từ nhiều năm qua, tất cả vẫn bị giới quan chức Việt Nam giấu biến, trong khi dư luận xã hội luôn xì xầm câu chuyện các doanh nghiệp Trung cộng luôn chi ‘dưới gầm bàn’ thoáng nhất cho giới lãnh đạo Việt Nam.

"Sáp nhập tiền tệ" để tiến tới "sáp nhập lãnh thổ"?
Về mặt an ninh tiền tệ và chủ quyền kinh tế, ‘Nhân dân tệ hóa vùng biên giới phía Bắc’ chính là một thất bại lớn và càng khiến người dân Việt có cơ sở để mang nỗi tuyệt vọng rằng bản Hiệp ước Thành Đô - được cho là đã được lén lút ký kết giữa các lãnh đạo Việt Nam với lãnh đạo Trung cộng vào thập kỷ 90 của thế kỷ XX để đưa Việt Nam trở thành một tỉnh của Trung cộng vào năm 2020 - đang được giới lãnh đạo hậu bối của Việt Nam rắp tâm thi hành bằng thủ đoạn ‘sáp nhập tiền tệ’ trước khi tiến tới ‘sáp nhập lãnh thổ’.
 
https://baomai.blogspot.com/
Trần Quốc Vượng - Thường trực Ban bí thư - sang Bắc Kinh vào cuối tháng Tám năm 2018, trong đó có cuộc gặp với Tập Cận Bình.

Chủ Nhật, 26 tháng 8, 2018

KINH TẾ TRUNG CỘNG BÊN BỜ VỰC THẲM

Kết quả hình ảnh cho chiến tranh thương mại
 
Bắt đầu trận chiến mậu dịch Mỹ đã đánh thuế trên $34 tỷ hàng nhập cảng từ Tàu, Trung Cộng trả đũa với số thuế quan tương tự. Hôm nay Mỹ đánh thuế thêm trên $16 tỷ nữa, Tàu tuyên bố sẽ đánh trả lại với con số bằng con số đó. Nhưng khi chính phủ Trump dự tính sẽ đánh thuế thêm trên $200 tỷ đô la vào hàng Trung Cộng, Tàu không đưa ra được con số sẽ đáp trả lại là bao nhiêu như hai lần trước. Lý do đơn giản là vì Mỹ chỉ xuất cảng sang Tàu khoảng $175 tỷ. Tàu chỉ có thể đánh thuế vào 175 tỷ nầy thôi. Trong khi đó Mỹ mua vào gần $500 tỷ. Mỹ, nếu muốn, sẽ đánh thuế lên 500 tỷ hàng hoá nhập cảng nầy và có thêm số tiền thuế khoảng 80 tỷ. Tàu hết đạn, bèn đưa ông Vương Thụ Văn, phó Bộ Trưởng thương mại sang Mỹ để thương thuyết.

TAI HỌA TIẾP THEO TAI NẠN:
- Thứ Tư tuần rồi 15/8 đại công ty kỹ thuật Tencent, một trong mười công ty lớn hàng đầu thế giới đã mất trắng gần 40% giá trị chứng khoáng, làm rúng động giới công nghệ Tàu. Hai công ty kỹ thuật khác cũng thuộc đẳng cấp quốc tế là Alibaba mất 16.5% và Baidu mất 18.5% cùng trong tháng Bảy rồi.
- Đầu tháng này, Tòa án thành phố Đông Doanh, tỉnh Sơn Đông đã công bố bản báo cáo thanh toán xin phá sản của Tập đoàn Vĩnh Thái,
- Tập đoàn Vĩnh Thái nằm trong top 10 công ty sản xuất vỏ xe lớn nhất Tàu với tổng số tài sản lên tới 3,5 tỷ USD và 5,000 công nhân, được tạp chí “Tire Business” của Mỹ xếp thứ 32 trong số 75 nhà sản xuất vỏ xe lớn nhất thế giới. Nhà máy có sản lượng 1,5 triệu vỏ xe mỗi năm phần lớn xuất cảng sang Mỹ. Tập đoàn Thần Hi được mệnh danh là “vua đậu tương Sơn Đông” cũng chịu cùng số phận.
- Bình luận gia Chen Zhao, hôm 21 tháng 8 nhận định rằng chiến thuật “ăn miếng trả miếng” của Tàu không hiệu quả trong chiến tranh thương mại với Mỹ và đề nghị giải pháp Bắc Kinh hãy chú trọng vào việc tăng cường tiêu thụ nội địa để giảm bớt hậu quả kinh tế từ Mỹ.
- Theo các phân tách gia tài chánh, để đối phó vấn nạn suy thoái kinh tế, Tàu đang hối thúc các ngân hàng cho vay nhiều thêm, đồng thời cho phép chánh quyền địa phương đầu tư vào các công trình hạ tầng lớn cho dù địa phương đang bị ngập trong những món nợ chưa trả được. Tàu đang giải khát bằng thuốc độc.
- Theo ông Hao Hong, giám đốc nghiên cứu của ngân hàng Communications trụ sở ở Thượng Hải, chánh quyền Tàu đang đứng trước lằn ranh chết sống.
- Tàu đang đối diện nhiều khó khăn cùng lúc. Họ đang đối phó nạn suy thoái kinh tế, kìm chế nợ quốc gia không để trầm trọng thêm. Đồng thời phải chống đở lạm phát, ngăn chặn sự mất giá nhanh của đồng Quan. Vì vậy Tàu muốn thắng trận chiến mậu dịch với Mỹ phải mời “đỉnh cao trí tuệ Vẹm” sang mới làm được.
- Theo Bloomberg ngày 19/8 trong bài “Doors Slam Shut for China Deals Around the World” thì tuần qua Tổng Thống Trump đã ký đạo luật điều chỉnh lại việc bán cho Tàu ba bộ phận (1) kỹ thuật chuyên ngành, (2) kỹ thuật căn bản và (3) kỹ thuật điều hành lý lịch cá nhân, nhân viên. Cùng khuynh hướng đó, các nước Canada, Úc và Âu châu cũng siết chặt việc bán kỹ thuật cho Tàu.
- Tương tự, trong tháng qua bà Thủ Tướng Đức Angela Merkel đã cấm bán công ty sản xuất dụng cụ máy móc Leifeld Metal Spinning AG cho Tàu. Theo Bloomberg, tính từ đầu năm đến nay, các cộng ty kỹ thuật lớn của Tàu đang trong tình trạng lợi nhuận âm và giá trị đang xuống thấp so với những công ty cùng dạng của Mỹ.
- Giới đầu tư chứng khoán về kỹ thuật hiện đang hoang mang trước những qui định mới, những động thái chính trị đầy rủi ro của nhà cầm quyền Tàu, cùng với những lo âu lớn về thị trường, kinh tế. Bên cạnh những việc đang xảy ra trước mắt như những ngân hàng lớn, kinh doanh địa ốc đang trì trệ, đặc biệt giá chứng khoán kỹ thuật vẫn cao, vì vậy có nhiều nguy cơ mất giá tiếp trong những tháng tới với tầm cỡ lớn hơn, xa hơn.
- Chưa hết, vài tháng qua bọn “phản động”, cựu quân nhân Tàu tụ họp đông đảo để đòi hỏi tiền bồi thường và phúc lợi mà họ chưa nhận được, dù nhà cầm quyền Tàu từ tháng Ba đã thành lập Bộ Cựu Chiến Binh mới, nhưng họ vẫn không hài lòng. Cuộc tụ tập đông đảo nầy không đe dọa đến đảng cộng sản Tàu, nhưng đặc biệt đe dọa đến vị trí lãnh đạo của Tập Cận Bình.
- Dù cuộc chiến thương mại đang tiếp diễn, đang tăng cường độ, như thế không có nghĩa là Mỹ và Tàu không còn giao dịch thương mại, nhưng họ chỉ tiếp tục buôn bán với nhau khi thấy rằng những thuận lợi của họ to hơn việc bị áp thuế 25% và không cảm thấy có rủi ro, cho dù họ vẫn thấy sự bế tắc sẽ kéo dài vì hai nước có lập trường rất khác biệt về kinh tế và thương mại. Nhất là cả hai chưa sẵn sàng thương thảo, hoặc chưa chân thành thảo luận những dị biệt.
- Trong tuần nầy sẽ có cuộc thảo luận giữa ông Vương Thụ Văn và vị phụ tá Bộ Trưởng bộ Tài Chánh Malpass trong cố gắng làm dịu sự căng thẳng, nhưng những chuyên gia kinh tế nghĩ rằng sẽ không đạt được tiến bộ nào. Cuộc thảo luận nầy chỉ dọn đường cho cuộc gặp gỡ giữa Tổng Thống Trump và ông Tập trong tháng Mười Một tới, lúc đó hai vị nguyên thủ có thể “nặn ra” giải pháp cho cuộc khủng hoảng. Có phải chăng ông Trump chọn tháng Mười Một để “trình làng” sự thành công về kinh tế của chánh phủ nhằm mục đích lấy phiếu cho ứng cử viên Cộng Hoà trong cuộc bầu cử giữa kỳ?

TỔNG THỐNG TRUMP DỦNG CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI PHỤC VỤ CHO BẦU CỬ?
Như trình bày trên đây, những trở ngại khó khắc phục đang chờ đón Tập. Trong nhiều trường hợp trở ngại của Tập trở thành lợi thế của Trump trong chiến tranh thương mại. Có thể Trump dùng lợi thế nầy như một thành công thương mại để lấy phiếu cho ứng cử viên đảng Cộng Hoà trong cuộc bầu cử bán kỳ tháng 11 năm nay. Sau cuộc bầu cử tháng 11, ông Trump có thể nhân nhượng, tìm lối thoát cho Tàu, “vỗ béo” Tàu để chờ cuộc tranh cử tổng thống nhiệm kỳ 2 năm 2020, Trump lại khởi động chiến tranh thương mại tiếp và cũng lại tạo thế thượng phong mậu dịch để làm cho quần chúng Mỹ thấy tài lãnh đạo kinh tế và do đó nhiệm kỳ hai có thể trong tầm với của ông Trump.

Thứ Sáu, 24 tháng 8, 2018

CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM CHỈ TỒN TẠI 15 THÁNG

 http://luatkhoa.info/wp-content/uploads/2017/04/The-Fall-of-Saigon-1975-29.jpgCách đây hơn 40 năm, có một quốc gia từng tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam trong chưa đầy 15 tháng và ít được sử sách sau này nhắc tới.

Đúng 13:30 phút ngày 30/4/1975, Tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng hoà (VNCH), Dương Văn Minh, tuyên bố đầu hàng "quân giải phóng miền Nam Việt Nam" và kêu gọi binh sĩ của quân lực Việt Nam Cộng hoà buông vũ khí.
Lực lượng quân giải phóng miền Nam Việt Nam trong tuyên bố đầu hàng này chính là Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam (Mặt trận). Tên tiếng Anh của lực lượng này là National Liberation Front, thường được gọi tắt là NFL trong các văn bản quốc tế.
Mặt trận còn được xem là lực lượng nòng cốt của một chính thể thứ ba tại Việt Nam trong chiến tranh, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (CPCM).
Trong khi quốc tế đã công nhận hai nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) và VNCH trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, thì vai trò cũng như sự nhìn nhận quốc tế đối với chính thể thứ 3 trong giai đoạn này phức tạp hơn.
Ngoài ra, đối với người Việt Nam, thì cả Mặt trận lẫn CPCM hầu như đều bị cả hai phe Quốc gia và Cộng sản xem như là một phần của quân đội và nhà nước Bắc Việt trong và sau cuộc chiến.
Tuy nhiên, chính sự hiện diện của Mặt trận và CPCM trong lịch sử Việt Nam đã giúp khẳng định rõ hơn việc lãnh thổ Việt Nam đã từng hiện diện hai quốc gia trong vòng trên dưới 22 năm, từ 7/1954 – 7/1976.
 
  http://luatkhoa.org/wp-content/uploads/2017/04/fall_of_saigon_1-1024x701.jpeg
        
Những chiếc xe tăng tiến vào Sài Gòn và chiếm dinh Độc Lập ngày 30/4/1975 mang cờ nửa xanh nửa đỏ của Mặt trận. Ảnh: Francoise De Mulder—Roger Viollet/Getty Images.

Cánh tay nối dài của miền Bắc
Sau khi Hiệp định Geneva 1954 tạm thời chia đôi Việt Nam tại vĩ tuyến 17, quyền quản lý miền Nam Việt Nam được thế giới công nhận thuộc về thể chế VNCH.
- Mặt Trận được thành lập ngày 20/12/1960. Họ tự tuyên bố là một liên minh chính trị của những người đối lập với chính quyền VNCH tại miền Nam Việt Nam, bao gồm những người Cộng sản tại miền Nam (chiếm đa số) và những người thuộc các đảng phái chính trị khác. Ngoài ra, Mặt trận còn kêu gọi tất cả những ai có tư tưởng chống Mỹ tham gia.
Mục tiêu của Mặt trận là lật đổ chế độ VNCH, không chấp nhận sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Việt Nam, và tiến hành thống nhất hai miền Nam-Bắc. Đối với quốc tế, Mặt trận luôn luôn đề cao tính trung lập của mình đối với cả VNCH lẫn VNDCCH trong vai trò hòa giải và thống nhất quốc gia.
Mặc dù vậy, sau khi chiến tranh kết thúc, các văn kiện của đảng Lao động (tức đảng Cộng sản) Việt Nam trong giai đoạn 1954-1975 cho thấy sự chỉ đạo toàn diện của đảng Cộng sản đối với Mặt trận. Bà Nguyễn Thị Bình, cựu Bộ trưởng Ngoại giao của CPCM, được kết nạp vào đảng Cộng sản năm 1948, từng ra Bắc làm việc sau năm 1954 và được phái trở lại miền Nam năm 1962, sau này làm tới chức Phó Chủ tịch nước của Việt Nam thống nhất.

- Đến 8/6/1969, Mặt trận cùng với Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam, tiến hành thành lập chính phủ riêng, lấy tên là Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam, và công khai đối lập với chế độ VNCH.
 
    http://luatkhoa.org/wp-content/uploads/2017/04/prg_1.jpg

Đại hội thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ngày 6-8/6/1969 tại Tây Ninh. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.

Cần phải nói thêm, do cần thu hút những thành phần bất đồng chính kiến và các tổ chức chính trị phi cộng sản tại miền Nam tham gia vào Mặt trận mà Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam đã được thành lập. Lực lượng quần chúng này bao gồm rất nhiều thành phần trong xã hội, ví dụ như sinh viên, học sinh, trí thức, nhà văn, nhà báo, lãnh đạo các tôn giáo, v.v.
Qua đó, Mặt trận đã mở rộng cả mục tiêu hoạt động của mình lẫn thành phần tham gia, và điều này đã giúp cho họ thoát khỏi những cáo buộc là tổ chức vũ trang của đảng Cộng sản, cũng như tái khẳng định tính trung lập và vị thế của một liên minh chính trị đối lập với chính phủ VNCH tại miền Nam.

Tìm kiếm sự công nhận và tính chính danh đối với cộng đồng quốc tế
Sau khi thành lập chính phủ lâm thời vào năm 1969, Mặt trận và CPCM tăng cường vận động quốc tế để khẳng định tính chính danh của mình. Vào thời điểm tháng 11/1969, CPCM đã được 28 nước công nhận. Nhưng đa số các nước đó thuộc về khối cộng sản trong thời kỳ chiến tranh Lạnh.
Trong giai đoạn 1969-1975, CPCM luôn luôn công nhận sự độc lập và tự chủ về lãnh thổ quốc gia tại miền Nam Việt Nam, ngay cả đối với VNDCCH.
Khi tham gia vào hòa đàm Paris và tuy là một trong 4 bên của Hiệp định Paris 1973, nhưng CPCM chỉ được công nhận là một trong hai phe của miền Nam Việt Nam.
Hiệp định Paris 1973 công nhận có hai chính quyền (two governments) song song tồn tại và đối lập với nhau tại miền Nam Việt Nam: chính quyền Sài Gòn của VNCH và CPCM.

 http://luatkhoa.org/wp-content/uploads/2017/04/1973_news_vietnam_nguyen_thi_binh-1024x683.jpg 
 Bà Nguyễn Thị Bình, đại diện Chính phủ Cách mạng Lâm thời CHMNVN ký Hiệp định Paris, ngày 27/1/1973.

Cả hai chính quyền đều có cơ quan hành chính và quân đội riêng, kiểm soát các phần lãnh thổ khác nhau tại miền Nam. Cả hai đều có các nghĩa vụ quốc tế riêng. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn được xem là chỉ có hai quốc gia (two states), Bắc Việt và Nam Việt.
Quan điểm chung của thế giới vào thời điểm ấy có thể được tóm tắt trong tuyên bố sau đây của Bộ Ngoại giao Úc năm 1974:

“Khi Việt Nam được chia đôi vào năm 1954, hai quốc gia đã được thành lập và hai nhà nước được hình thành. Nhà nước Úc đã công nhận từ rất lâu việc hiện hữu của hai quốc gia và vẫn đang có mối quan hệ với cả hai nhà nước, nhà nước VNDCCH ở miền Bắc Việt Nam và nhà nước VNCH ở miền Nam Việt Nam. Cả hai nhà nước là thành viên của Hiệp định Paris (1973) cùng với CPCM. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là nhà nước Úc ủng hộ việc công nhận một quốc gia thứ ba với nhà nước riêng (tức là CPCM).”
Vì vậy, CHMNVN đã bị từ chối khi họ nộp đơn xin tham gia vào các hiệp nghị của Công ước Geneva 1949 tháng 12/1973 do gặp sự phản đối từ một số nước không công nhận tư cách “quốc gia” của họ.
Thế nhưng, nỗ lực tìm kiếm sự công nhận của quốc tế của CPCM vẫn được tiếp tục. Bộ Ngoại giao của CPCM đã thành lập phái đoàn thường trực với trụ sở tại Paris, Pháp.
Tài liệu lưu trữ của Liên Hiệp Quốc cho thấy vào tháng 1/1975, chính phái đoàn thường trực này đã gửi thư lên LHQ và lên án chính quyền VNCH vi phạm Hiệp định Paris 1973. Họ cũng tái khẳng định nỗ lực của CPCM trong việc giải quyết những xung đột nội bộ (internal affairs) của miền Nam Việt Nam với chính quyền Sài Gòn-VNCH bằng phương pháp hòa bình nhưng bất thành, cũng như lên án VNCH đã phá vỡ Hiệp định 1973 bằng vũ lực.

Quốc gia Cộng hòa Miền Nam Việt Nam: riêng biệt và độc lập trong 15 tháng
Ngay khi VNCH thua trận vào ngày 30/4/1975, CPCM đã lập tức khẳng định tư cách quản lý lãnh thổ miền Nam Việt Nam trước quốc tế bằng việc nêu rõ tính độc lập và quyền tự chủ của mình.
Đơn cử một ví dụ là vào ngày 4/5/1975, bà Nguyễn Thị Bình, với tư cách Bộ trưởng Bộ ngoại giao của chính phủ Cộng hoà Miền Nam Việt Nam (Republic of South Vietnam) – là tên gọi chính thức tại LHQ – đã gửi thư đến LHQ và nêu rõ tính độc lập và quyền tự chủ của CHMNVN, đồng thời tuyên bố tư cách thừa kế chính quyền VNCH tại LHQ và tại các tổ chức quốc tế, cũng như các định chế tài chính quốc tế.
Ngay tại Việt Nam, ngày 4/5/1975, báo Nhân Dân đã đăng thông báo về việc CPCM thành lập Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn-Gia Định để tiếp quản thành phố này.

http://luatkhoa.org/wp-content/uploads/2017/04/The-Fall-of-Saigon-1975-29.jpg
Tướng Trần Văn Trà, Chủ tịch Uỷ ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định tổ chức họp báo quốc tế ngày 8/5/1975. Nguồn: Herve GLOAGUEN/Gamma-Rapho via Getty Images.

Ngày 15/7/1975, ông Huỳnh Tấn Phát, Chủ tịch nước CHMNVN, đã gửi điện tín đến Tổng thư ký LHQ kèm theo đơn xin gia nhập LHQ. Cùng thời điểm đó, VNDCCH cũng nộp một đơn riêng xin gia nhập LHQ.
Rất rõ ràng là ngay sau ngày 30/4/1975, cả VNDCCH ở miền Bắc và CHMNVN ở miền Nam đã khẳng định một lần nữa trước quốc tế rằng họ là hai quốc gia độc lập.
Phản ứng quốc tế trước sự kiện 30/4/1975 cũng ủng hộ lập luận trên. Đó là hầu hết các quốc gia đều cho rằng CPCM đã thay thế  VNCH để quản lý quốc gia Nam Việt Nam, tức là một sự thay đổi chế độ (change of government) tại miền Nam.
Tính chính danh của hai quốc gia Nam-Bắc Việt Nam trên phương diện công pháp quốc tế trong giai đoạn 4/1975-7/1976 được thể hiện qua tuyên bố của chính phủ Úc vào tháng 10/1975:

“Việc thống nhất giữa Bắc và Nam Việt Nam hiện tại vẫn chưa xảy ra, và như thế vẫn có hai nhà nước tiếp tục vận hành riêng biệt với nhau. Sự hiện diện của hai nhà nước riêng biệt (tại Việt Nam) đã được ít nhất 75 quốc gia công nhận. Việc vận hành riêng biệt cũng như sự chấp nhận bởi cộng đồng quốc tế đối với hai quốc gia này, VNDCCH và CHMNVN, được thể hiện rõ qua việc họ tham gia vào tổ chức WHO và WMO với tư cách là hai quốc gia thành viên khác nhau tại thời điểm này.”

Quốc gia CHMNVN chính thức chấm dứt tồn tại vào ngày 2/7/1976 khi họ hợp nhất với VNDCCH thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Chủ Nhật, 19 tháng 8, 2018

LÒNG "HIẾU ĐẠO" THUỞ XƯA CỦA CON CÁI LÀ PHẢI ĐỂ TANG 3 NĂM SAU KHI CHA MẸ MẤT.!


(Tìm hiểu thêm...nhân mùa Vu Lan Báo Hiếu 15-7 âm lịch).

Trong dân gian, tháng 7 Âm lịch luôn được coi là “tháng cô hồn” với một loạt những điều kiêng kỵ tránh xui xẻo.

Riêng đối với Phật giáo, 15-7 âm lịch là Đại lễ Vu Lan báo hiếu, một ngày lễ mang đậm tính hiếu đạo của con cái đối với cha mẹ hiện tiền cũng như quá vãng, trong đời sống tâm linh của người dân Việt Nam.

Lấy “Hiếu” để cai trị thiên hạ là một trong những tư tưởng cốt lõi của các bậc Hiền Vương thời xưa. Từ ngàn xưa đến nay, người ta đều coi gia đình là nền tảng cấu tạo nên xã hội. Gia đình là một nhân tố của quốc gia. Gia đình hòa thuận thì đất nước ắt sẽ thanh bình. Gia đình hưng thịnh thì đất nước sẽ giàu mạnh. Gia đình yên ổn vững vàng góp phần tiến bộ cho đất nước đi đến văn minh, phú cường.

"Dân chi sở hiếu, hiếu chi; Dân chi sở ố, ố chi. Thứ chi vị dân chi phụ mẫu" (thương buồn vui ghét cùng với dân, ấy là cha mẹ dân).

Cho nên, từ xưa đến nay khi giáo hóa dân chúng thì việc đầu tiên là “TU THÂN, TỀ GIA". Có nghĩa là tu chính bản thân mình, rồi mới giữ gia đình chỉnh tề, sau đó "TRỊ QUỐC, BÌNH THIÊN HẠ", quản trị đất nước, rồi mới bình định thiên hạ. Tu thân là cái gốc, mà việc tu thân là nhất định không thể thiếu “hiếu đạo”.

Câu: “Bách thiện hiếu vi tiên”, đối với cổ nhân mà nói thì trăm cái đức, ngàn cái hạnh cũng không có cái nào có thể sánh bì với việc thủ hiếu giữ đạo làm con.

Người xưa đề cao lòng hiếu thảo của con người. Những người hiếu thảo với cha mẹ đều được mọi người tôn sùng, kính trọng. Trong lịch sử cũng có rất nhiều vị vua đã làm tròn được bổn phận hiếu thảo của người con đối với cha mẹ mình.

Ngay cả các bậc vua chúa cũng luôn thủ đạo hiếu con, lấy thân làm mẫu cho vạn dân noi theo. Ở đây có thể kể đến những bậc hiền nhân xưa như vua Trần Anh Tông. Vua Trần Anh Tông vốn dĩ ham mê uống rượu, nhưng vì một lần say rượu làm lỡ mất dự chầu, khi đó bị thái thượng hoàng Trần Nhân Tông trách phạt. Vua Trần Anh Tông phải quỳ gối và dâng biểu tạ tội kiểm điểm bản thân mới được tha lỗi. Và cũng kể từ đó, vua Trần Anh Tông quyết tâm không uống rượu nữa. Mặc dù ở ngôi cao, vua Trần Anh Tông vẫn tôn trọng đạo hiếu, tuân theo lời dạy bảo của cha.

Hay như vua Tự Đức, đây có lẽ là ông vua duy nhất bị mẹ đánh đòn trong lịch sử nước ta. Năm đó, vua Tự Đức đi săn, chẳng may gặp phải trận lụt bất ngờ, không thể về kịp lo liệu ngày kỵ của tiên hoàng Thiệu Trị. Sau khi về đến cung điện, nhà vua vội vàng đội mưa đến quỳ tạ tội với mẹ là thái hậu Từ Dũ. Ông còn chủ động dâng roi mây, nằm xuống chịu đòn.

Nói đến chữ hiếu, chúng ta cũng không thể không nhắc tới Nguyễn Trãi, ông là tấm gương trung hiếu vẹn toàn trong lịch sử. Khi cha là Nguyễn Phi Khanh bị giặc Minh bắt, Nguyễn Trãi đi theo cha đến ải Nam Quan, muốn cùng cha sang tận Trung Quốc hầu hạ nhưng cha ông khuyên ông trở về lo mưu nghiệp lớn chống Minh. Nghe lời cha dặn, Nguyễn Trãi nếm mật nằm gai 16 năm ròng, sau này ông đã bày mưu tính kế, góp phần quan trọng giúp nghĩa quân Lam Sơn giành thắng lợi.

Đối với người xưa, việc bất hiếu là một đại tội không thể dung thứ, việc hiếu kính cha mẹ không chỉ là việc chăm sóc cha mẹ chu đáo về tinh thần và vật chất khi còn sống mà bao gồm cả việc lo tang hậu sự cho cha mẹ khi đã mất.

Trong cuộc sống phong kiến, khi cha mẹ qua đời con cái phải thủ hiếu 3 năm, trong khoảng thời gian này tuyệt đối không được kết hôn. Các quan viên cũng phải từ quan về nhà thủ hiếu cha mẹ ba năm, gọi là “Đinh hiếu”.

Theo tục xưa, trong khoảng ba năm này con cái không thể lên kinh ứng thí, thậm chí còn không được ở trong nhà mà phải làm lều cỏ bên mộ phần cha mẹ để trông nom, chăm sóc. Đối với chúng ta ngày nay, điều nầy là việc ngoài sức tưởng tượng…và không còn tồn tại.

Tuy nhiên ngày xưa nó thậm chí còn được ghi vào pháp chế. Khi xưa, vua Chu Nguyên Chương khi đăng cơ đã quy định: “Trong ba năm tang chế, con cái không được ra ngoài gặp gỡ bằng hữu, phải mặc áo vải bố, mép vải thừa không được cắt tỉa, không được cắt tóc”.

Vì sao người xưa phải thủ tang giữ đạo ba năm sau khi cha mẹ khuất núi và ý nghĩa sâu xa của việc thủ tang này ra sao?

Việc "thủ hiếu" ba năm của cổ nhân chủ yếu là hàm ý hoàn ơn cha mẹ nuôi nấng sinh thành. Khi con cái sinh ra ba năm đầu, cha mẹ mới yên tâm để con cái rời xa vòng tay của mình mà chạy nhảy, đặc biệt thời xưa không có sữa để ăn ngoài, người mẹ phải nuôi con bằng sữa mẹ, hoặc chắt nước cơm sôi cho con uống thêm trong suốt ba năm. Vậy nên trong khoảng thời gian này cha mẹ phải vất vả bội phần, thức khuya dậy sớm chăm sóc, cho ăn, ngủ, đêm hôm chăm coi tã quần, thậm chí khi con tè dầm, đái dắt cha mẹ đã phải nhường con chỗ khô, mình nằm chỗ ướt.

Vì ơn sinh dưỡng của cha mẹ là không gì sánh nổi, thế nên sau khi cha mẹ mất, con cái phải thủ tang ba năm, đây cũng là ba năm hoàn nghĩa sinh thành chăm sóc khi xưa. Nếu như không thủ được lễ ba năm này thì sao có thể gọi là hiếu tử? Tuy nhiên theo sự thay đổi của xã hội, con người cũng ngày càng trở thành khác biệt, chữ hiếu ngày nay nó đã phần nào trở thành hình thức.

Kỳ thực, ba năm thủ hiếu này không chỉ là việc hoàn ân trả nghĩa cho cha mẹ mà còn là thời gian để con người cảnh tỉnh, chiêm nghiệm chính mình, có thời gian tĩnh tâm suy nghĩ về đường đời. Nó cũng như một lời nhắc nhở chúng ta rằng: Nhân sinh tại thế, sinh tử vô thường, đến đi vô định.

Khi một người có thể hiểu ra đời người sống tại thế gian, mọi thứ thật vô thường ngắn ngủi, họ sẽ suy nghĩ chín chắn hơn nữa về đường đời của mình, suy nghĩ về ý nghĩa của cuộc sống, suy nghĩ về những bon chen, được mất, hơn thua trong cuộc đời, và từ đó thay đổi bản thân. Đua tranh danh lợi dẫu có được thì cũng lợi bất cập hại, khi nhắm mắt xuôi tay, tiền của danh vọng chẳng thể mang theo. Tuy nhiên việc làm ác, gây nghiệp thì phải hoàn trả, đó là điều không thể tránh, dẫu đời này không trả thì đời sau vẫn phải đền.

Vậy ý nghĩa sâu xa của việc thủ tang này ra sao?
Kỳ thực, ba năm thủ hiếu này không chỉ là việc hoàn ân trả nghĩa cho cha mẹ mà còn là thời gian để con người suy xét chính mình…

Tăng Quốc Phiên là một danh thần nổi tiếng nhà Thanh, cả cuộc đời ông đã có vô số thành tựu, ông cũng đã viết rất nhiều sách gia huấn khuyên dạy thế nhân. Ông xứng đáng là bậc thánh nhân thời kỳ cận đại. Trước lúc cha ông mất, ông vốn dĩ cũng là bậc nho gia từ nhỏ đọc sách thánh hiền, hiểu được đạo lý nhân sinh. Tuy nhiên trong cuộc sống hàng ngày có nhiều lúc vẫn có hình bóng của một người mang đầy kiêu khí, dẫn tới ông đã đắc tội với nhiều người.
Sau khi cha ông mất, ông từ quan về quê thủ hiếu ba năm, trong khoảng thời gian này ông đã thay đổi quan niệm sống của mình một cách nhanh chóng. Đối với việc đối nhân xử thế, ông luôn lấy nhẫn làm đầu, bao dung độ lượng cho người, trước khi ra quyết định một vấn đề nào đó ông luôn biết đứng từ góc độ của người khác mà quyết định. Không chỉ đối với người trên mà ngay cả kẻ dưới ông cũng hết mực tôn kính. Có thể nói ba năm thủ hiếu cha đã giúp ông thành tựu, thay đổi cách sống, trở thành bậc thánh nhân được tôn kính thiên cổ.

Việc "thủ hiếu" ân cha, nghĩa mẹ, không chỉ là việc đền ơn đáp nghĩa hai đấng sinh thành, mà còn là việc dạy bảo con cháu đời sau, giúp cho con cái hiểu được sâu sắc chữ hiếu là thế nào. Khi một người có thể thấm nhuần đạo hiếu thì đường đời ắt cũng sẽ thành công. Người có đạo hiếu chắc chắn sẽ là một người lương thiện, mà người lương thiện ắt sẽ ở lành gặp hiền, được trời đất chiếu cố, sẽ đường đường chính chính có chỗ đứng trong nhật nguyệt bao la này.

Thứ Hai, 13 tháng 8, 2018

KÍNH DÂNG MẸ MỘT GIẤC NGỦ YÊN TRONG THẾ GIỚI KHÔNG HẬN THÙ

   
       CHIA XẺ NIỀM ĐAU MẤT MẸ
KÍNH DÂNG MẸ
XIN MẸ MỘT GIẤC NGỦ YÊN TRONG THẾ GIỚI KHÔNG HẬN THÙ 
QUÊ MẸ THƯƠNG NHỚ
Quê tôi Đó, bên sông, Chiều trở LẠNH
Gió đông Về, rét buốt MẢNH thân CÔI
Chiều chợt Buồn khi còn Mãi xa XÔI
Hình bóng Mẹ giờ đây TÔI hồi TƯỞNG
Ra đi Lúc, gió còn, đang chuyển HƯỚNG
Lòng thẩn Thờ mãi mê VƯỚNG gót CHÂN
Mái tranh Xưa xiêu vẹo Đó thật GẦN
Chén cơm Hẩm, nuôi con, THÂN khôn lớn

                 Image
Mẹ tôi Đó, tháng ngày, Đơn chiếc LẮM
Bếp lửa Chiều vương khói XÁM thôn CAO
Canh ruột Bầu râu tôm Mắm ruốc CHAO
Sống đạm Bạc, qua ngày BAO gian KHÓ
Để dành Dụm thăm nuôi Con lao KHỔ
Ngày trở Về cao nguyên PHỐ mù SƯƠNG
Tin Mẹ Hiền từ biệt Quá đau THƯƠNG
Chân vẫn Bước nghiên xiêu NƯƠNG tựa cửa

                
Nhà mở Cửa, sao bốn Bề, im VẮNG
Mà nơi Đây giờ đã VẮNG bóng NGƯỜI
Tấm liếp Thưa ngăn cản Gió, che NGƯỜI
Con chó Mực nhìn chăm NGƯỜI, chủ CŨ
Mẹ tôi Đó! nằm im Lìm như NGŨ
Trên mắt Còn, giọt lệ CŨ nhớ THƯƠNG
Lời ru Con qua năm Tháng vấn VƯƠNG
Lòng mãi Nhớ, niềm tiếc THƯƠNG quá khứ

                 Image
Quê hương Mẹ! nỗi buồn Đau, lìa BỎ…
Mãnh đất Nghèo đã che CHỞ chúng TA
Biết bao Điều khi nhung Nhớ lìa XA
Sống xứ Lạ nổi lòng TA trống VẮNG
Nhớ về Mẹ với tình Yêu lai LÁNG
Sữa Mẹ Hiền những ngày THÁNG nuôi CON
Ngày ra Đi lòng tíếc Nuối cô ĐƠN
Thương nhớ Mẹ vọng đầu NON nguồn nước

        Image
Nhớ hình Ảnh, buổi quây Quần, cơm TỐI
Bếp lửa Hồng đùa gió THỔI nhá NHEM
Gia đình Ơi! nơi nuôi Lớn tôi THÊM
Mẹ vẫn Mãi, tạo con THÊM sức MẠNH
Lời Mẹ Dạy luôn bên Con sát CÁNH
Giúp cho Con trong hoàn CẢNH xa NHÀ
Nơi quê Người vùng đất Khách đường XA
Sống xứ Lạ.! suốt đời TA nhớ mãi...

KÍNH LOAN