Thứ Hai, 27 tháng 2, 2023
ĐỊNH MỆNH AN BÀI
Chủ Nhật, 26 tháng 2, 2023
BÀI DIỄN THUYẾT BẰNG QUỐC VĂN CỦA CỤ PHẠM QUỲNH.
"TIẾNG VIỆT MẤT, NƯỚC VIỆT MẤT"
"TRUYỆN KIỀU CÒN, TIẾNG TA CÒN. TIẾNG TA CÒN, NƯỚC TA CÒN".
(Phạm Quỳnh)
Bài diễn thuyết về Truyện Kiều này được Phạm Quỳnh đọc nhân lễ kỷ niệm ngày giỗ Nguyễn Du vào ngày 8 tháng 12 năm 1924, tức ngày mồng 10 tháng 8 năm Giáp Tý do Hội Khai trí tiến đức của ông tổ chức. Bài được đăng lại tại Tạp chí Nam Phong số 86. Bài diễn thuyết này mở đầu cho một cuộc tranh cãi nổi tiếng vào đầu thế kỷ XX, được người sau mệnh danh là Vụ án truyện Kiều...
Phạm Quỳnh (17/12/1892 - 6/9/1945) là một nhà văn hóa, nhà báo, nhà văn và quan đại thần triều Nguyễn (Việt Nam). Ông là người đi tiên phong trong việc quảng bá chữ Quốc ngữ và dùng tiếng Việt - thay vì chữ Nho hay tiếng Pháp - để viết lý luận, nghiên cứu. Ông có tên hiệu là Thượng Chi, bút danh: Hoa Đường, Hồng Nhân.
Ông được xem là người chiến đấu bất bạo động nhưng không khoan nhượng cho chủ quyền độc lập, tự trị của Việt Nam, cho việc khôi phục quyền hành của Triều đình Huế trên cả ba kỳ (Bắc, Trung, Nam), chống lại sự bảo hộ của Pháp và kiên trì chủ trương chủ nghĩa quốc gia với thuyết Quân chủ lập hiến
Thưa các Ngài,
Hôm nay là ngày giỗ cụ Tiên-điền Nguyễn Tiên-sinh, là bậc đại-thi-nhân của nước Nam ta, đã làm ra bộ văn-chương tuyệt-tác là truyện Kim-Vân-Kiều.
Ban Văn-học Hội Khai-trí chúng tôi muốn nhân ngày giỗ này đặt một cuộc kỷ-niệm để nhắc lại cho quốc-dân nhớ đến "công-nghiệp" [1] một người đã gây-dựng cho quốc-âm ta thành văn-chương, để lại cho chúng ta một cái « hương hỏa » rất quí-báu, đời đời làm vẻ-vang cho cả giống-nòi.
Chúng tôi thiết-nghĩ một bậc có công với văn-hóa nước nhà như thế, không phải là ông tổ riêng của một nhà một họ nữa, mà là ông tổ chung của cả nước; ngày giỗ ngài không phải là ngày kỷ-niệm riêng của một nhà một họ nữa, chính là ngày kỷ-niệm chung của cả nước.
Hiện nay suốt quốc-dân ta, trên từ hàng thượng-lưu học-thức, dưới đến kẻ lam-lũ làm ăn, bất-cứ già trẻ, lớn bé, đàn ông, đàn bà, ai ai cũng biết truyện Kiều, ai ai cũng thuộc truyện Kiều, ai ai cũng kể truyện Kiều, ai ai cũng ngâm truyện Kiều, như vậy thời ai ai cũng đều hưởng cái công-nghiệp của Cụ Tiên-điền ta, ai ai cũng phải nhớ ngày giỗ Cụ và nghĩ đến cái ơn của Cụ tác-thành cho tiếng nước nhà.
Muốn cảm cái ơn ấy cho đích-đáng, hẵng thử giả-thiết Cụ Tiên-điền không "xuất-thế" [2], Cụ Tiên-điền có xuất-thế mà quyển truyện Kiều không xuất-thế, quyển truyện Kiều có xuất-thế mà vì cớ gì không lưu-truyền, thời tình-cảnh tiếng An-Nam đến thế nào, tình-cảnh dân-tộc ta đến thế nào?
Văn-chương người ta thiên kinh vạn quyển, dẫu có thiếu mất một quyển cũng chẳng hại gì. Văn-chương mình chỉ độc có một quyển, vừa là kinh, vừa là truyện, vừa là "Thánh-thư" [3] "Phúc-âm" [4] của cả một dân-tộc, ví lại khuyết nốt thì dân-tộc ấy đến thế nào?
Than ôi! mỗi lần nghĩ tới mà không khỏi rùng mình, chột dạ, sửng-sốt, rụng-rời, tưởng như hòn ngọc ở trên tay bỗng rơi xuống vỡ tan-tành vậy. Rồi mới tỉnh ra, sực nhớ đến mấy câu Kiều, vỗ bàn đập ghế, gõ "dịp" [5] rung đùi, lên giọng cao-ngâm:
Lơ-thơ tơ liễu buông mành,
Con oanh học nói trên cành mỉa-mai,
hay là:
Phong-trần mài một lưỡi gươm,
Những phường giá áo túi cơm xá gì,
bỗng thấy trong lòng vui-vẻ, trong dạ vững-vàng, muốn nhẩy muốn múa, muốn reo muốn hò, muốn ngạo-nghễ với non sông mà tự-phụ với người đời rằng: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có gì mà lo, có gì mà sợ, có điều chi nữa mà ngờ!...
Có nghĩ cho xa-xôi, cho thấm-thía, mới hiểu rằng truyện Kiều đối với vận-mệnh nước ta có một cái quí-giá vô-ngần.
Một nước không thể không có quốc-hoa, truyện Kiều là quốc-hoa của ta; một nước không thể không có quốc-túy, truyện Kiều là quốc-túy của ta; một nước không thể không có quốc-hồn, truyện Kiều là quốc hồn của ta. Truyện Kiều là cái "văn-tự" [6] của giống Việt-Nam ta đã "trước-bạ" [7] với non sông đất nước này. Trong mấy nghìn năm ta chôn rau[8] cắt rốn, gửi thịt gửi xương ở cõi đất này, mà ta vẫn hình như một giống ăn trọ ở nhờ, đối với đất nước non sông vẫn chưa từng có một cái văn-tự văn-khế phân-minh, chứng-nhận cho ta có cái quyền sở-hữu chính-đáng. Mãi đến thế-kỷ mới rồi mới có một đấng quốc-sĩ[9], vì nòi-giống, vì đồng-bào, vì tổ tiên, vì hậu-thế, rỏ máu làm mực, "tá-tả" [10] một thiên văn-khế tuyệt-bút, khiến cho giống An-Nam được công-nhiên[11], nghiễm-nhiên[12], rõ-ràng, đích-đáng làm chủ-nhân-ông một cõi sơn-hà gấm vóc.
Đấng quốc-sĩ ấy là ai? Là Cụ Tiên-điền ta vậy. Thiên văn-khế ấy là gì? Là quyển truyện Kiều ta vậy.
Gẫm trong người ấy báu này,
Chẳng duyên chưa dễ vào tay ai cầm!
Báu ấy mà lọt đến tay ta, thật cũng là một cái phúc-duyên cho ta, nhưng báu ấy ở trong tay Cụ lại chính là một cái túc duyên[13] của Cụ. Thiên văn-tự tuyệt-bút kia là gồm bao nhiêu giọt máu, bao nhiêu giọt lệ kết-tinh lại mà thành ra, những khi đêm khuya thanh-vắng vẫn thường tỉ-tê thánh-thót trong lòng ta, như
Giọt sương gieo nặng cành xuân la-đà
Vậy, cái áng văn-chương tuyệt-tác cho người đời đó, an-tri lại không phải là một thiên lịch-sử thống-thiết của tác-giả?
Truyện Kiều quan-hệ với thân-thế Cụ Tiên-điền thế nào, lát nữa ông Trần Trọng-Kim sẽ diễn-thuyết tường để các ngài nghe.
Nay tôi chỉ muốn biểu-dương cái giá-trị của truyện Kiều đối với văn-hóa nước ta, đối với văn-học thế-giới, để trong buổi kỷ-niệm này đồng-nhân cảm biết cái công-nghiệp của bậc thi-bá nước ta lớn-lao to-tát là dường nào.
Đối với văn-hóa nước nhà, cái địa-vị truyện Kiều đã cao-quí như thế; đối với văn-học thế-giới cái địa-vị truyện Kiều thế nào?
Không thể so-sánh với văn-chương khắp các nước, ta hẵng so-sánh với văn-chương hai nước có liền-tiếp quan-hệ với ta, là văn-chương Tàu và văn-chương Pháp. Văn-chương Tàu thật là mông-mênh bát-ngát, như bể như rừng. Nhưng trong rừng văn bể sách đó, tưởng cũng ít quyển sánh được với truyện Kiều, mà xét cho kỹ có lẽ không có sách nào giống như truyện Kiều. Gốc truyện tuy do một bộ tiểu-thuyết Tàu mà ra, nhưng vào tay Cụ Tiên-điền ta biến-hóa hẳn, siêu-việt ra ngoài cả lề-lối văn-chương Tàu, đột-ngột như một ngọn cô-phong ở giữa đám quần-sơn vạn-hác vậy. Có người sánh truyện Kiều với Li-tao, nhưng Li-tao là một bài than, từ đầu đến cuối toàn một giọng bi-đát thảm-thương, so với Cung-oán của ta có lẽ đúng hơn. Có người lại sánh với Tây-xương, nhưng Tây-xương là một bản hát, từ-điệu có véo-von, thanh-âm có réo-rắt, nhưng chẳng qua là một mớ ca-từ cho bọn con hát, không phải là một nền văn-chương chân-chính. Cứ thực thì truyện Kiều dẫu là đầm-thấm cái tinh-thần của văn-hóa Tàu, dẫu là dung-hòa những tài-liệu của văn-chương Tàu, mà có một cái đặc-sắc văn-chương Tàu không có. Cái đặc sắc ấy là sự « kết-cấu ». Nhà văn, nhà thơ Tàu, ngoài những bài thơ bài văn nho-nhỏ ngăn-ngắn, phàm làm sách chỉ biết cách biên-tập, không sành cách kết-cấu. Biên-tập là cóp-nhặt mà đặt liền lại; kết-cấu là thu-xếp mà gây-dựng lên, thế nào cho thành một cái toàn-bức các bộ-phận điều-hòa thích-hợp với nhau, không thêm bớt được chút nào. Truyện Kiều là một cái toàn-bức như thế, mà là một bức tranh thế-thái nhân-tình vẽ sự đời như cái gương tầy liếp vậy.
Xét về cách kết-cấu thì văn-chương nước Pháp lại là sở-trường lắm. Cho nên truyện Kiều có thể sánh với những áng thi-văn kiệt-tác của quí-quốc, như một bài bi-kịch của Racine hay một bài văn tế của Bossuet vậy. Đó là nói về cái thể-tài văn-chương. Còn về đường tinh-thần thời trong văn-học Pháp có hai cái tinh-thần khác nhau, là tinh-thần cổ-điển và tinh-thần lãng-mạn. Tinh-thần cổ-điển là trọng sự lề-lối, sự phép-tắc; tinh-thần lãng-mạn là trong sự khoáng-đãng, sự li-kỳ. Truyện Kiều gồm được cả hai cái tinh-thần ấy, vì vừa có cái đạo-vị thâm-trầm của Phật-học, vừa có cái nghĩa-lý sáng-sủa của Nho-học, vừa có cái phong-thú tiêu-dao của Trang Lão, lấy lẽ phải ông Khổng mà chế lại sự thần-bí của nhà chùa, sự khoáng-dật của hai họ. Nhưng mà ngay trong văn-chương nước Pháp tưởng cũng không có sách nào giống hẳn như truyện Kiều, vì truyện Kiều có một cái đặc-sắc mà những nền kiệt-tác trong văn-chương Pháp không có. Đặc-sắc ấy là sự « phổ-thông ». Phàm đại-văn-chương, không những ở nước Pháp, ở nước nào cũng vậy, chỉ có những người thượng-lưu học-thức mới thưởng-giám được, kẻ bình-dân không biết tới. Người Pháp không phải là ai ai cũng biết đọc kịch Racine hay là đọc văn Bossuet. Người Nam thời ai ai cũng biết ngâm Kiều, kể Kiều, « lẩy » Kiều để ứng-dụng trong sự ngôn-ngữ thường, kẻ thông-minh hiểu cách thâm-trầm, kẻ tầm-thường hiểu cách thô-thiển, nhưng ngâm-nga lên thảy đều lấy làm vui tai, sướng miệng, khoái trí, tỉnh hồn.
Thử hỏi cổ kim Đông Tây đã có một áng văn-chương nào cảm người được sâu và được rộng như thế chưa. Tưởng dễ chỉ có một truyện Kiều ta là có thể tự-cao với thế-giới là văn-chương chung của cả một dân-tộc 18,20 triệu người, già, trẻ, lớn, bé, giỏi, dốt, sang, hèn, đều thuộc lòng và đều biết hay cả.
Như vậy thì truyện Kiều, không những đối với văn-hóa nước nhà, mà đối với văn-học thế-giới cũng chiếm được một địa-vị cao-quí.
Văn-chương ta chỉ có một quyển sách mà sách ấy đủ làm cho ta vẻ-vang với thiên-hạ, tưởng cũng là một cái kỳ-công có một trong cõi văn thế-giới vậy.
Cái kỳ-công ấy lại dũ-kỳ nữa là ngẫu-nhiên mà dựng ra, đột-nhiên mà khởi lên, trước không có người khai đường mở lối, sau không có kẻ nối gót theo chân, đột-ngột giữa trời Nam như cái đồng-trụ để tiêu-biểu tinh-hoa của cả một dân-tộc. Phàm văn-chương các nước, cho được gây nên một nền thi-văn kiệt-tác, phải bao nhiêu nhà thơ, bao nhiêu nhà văn, trong bao nhiêu năm lao-công lục-lực, vun-trồng bón-xới mới thành được. Nay bậc thi-bá nước ta, đem cái thiên-tài ít có trong trời đất, đúc cái khí thiêng bàng-bạc trong non sông, một mình làm nên cái thiên-cổ-kỳ-công đó, dẫu khách thế-giới cũng phải bình-tình mà cảm-phục, huống người nước Nam được trực-tiếp hưởng-thụ cái ơn-huệ ấy lại chẳng nên ghi-tạc trong lòng mà thành-tâm thờ-kính hay sao?
Cuộc kỷ-niệm hôm nay là chủ-ý tỏ lòng quốc-dân sùng-bái cảnh-mộ Cụ Tiên-điền ta; lại có các quí-hội-viên Tây và các quí-quan đến dự cuộc là để chứng-kiến cho tấm lòng thành-thực đó. Nhưng còn có một cái ý-nghĩa nữa, là nhân ngày giỗ này, đốt lò hương, so phím đàn, chiêu hồn quốc-sĩ.
Thác là thể phách, còn là tinh anh, áng tinh-trung thấp-thoáng dưới bóng đèn, chập-chừng trên ngọn khói, xin chứng-nhận cho lời thề của đồng-nhân đây. Thề rằng: "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, còn non còn nước còn dài, chúng tôi là kẻ hậu-sinh xin rầu lòng giốc chí cố gia-công trau-chuốt lấy tiếng quốc-âm nhà, cho quốc-hoa ngày một rực-rỡ, quốc-hồn ngày một tỉnh-tao, quốc-bộ ngày một tấn-tới, quốc-vận ngày một vẻ-vang, ngõ-hầu khỏi phụ cái chi hoài-bão của tiên-sinh, ngậm cười chín suối cũng còn thơm lây!"
Chú thích:
1) công nghiệp: Công lao và sự nghiệp đối với xã hội.
2) xuất thế: ra đời, nói một cách trân trọng.
3) Thánh thư: sách Thánh.
4) Phúc âm: Tin lành.
5) dịp: nhịp.
6) văn tự: giấy tờ do hai bên thỏa thuận ký kết mua bán.
7) trước bạ: đăng ký văn tự với một cơ quan nhà nước để có tính pháp lý.
😎 rau: nhau.
9) quốc sĩ: người tài nổi tiếng trong cả nước.
10) tá tả: viết dùm người khác.
11) công nghiên: một cách công khai.
12) nghiễm nhiên: (thực hiện) một cách tự nhiên và đàng hoàng, điều mà trước đó không ai ngờ.
13) túc duyên: duyên sẵn từ kiếp trước.
GÓP Ý: MONG CÁC BẠN TIẾP TAY CHIA XẺ VỚI "CON DÂN VIỆT" NHỮNG NỔI LÒNG MÀ TIỀN NHÂN ĐÃ GỞI GẤM...NAY HẬU THẾ ĐÃ, ĐANG VÀ SẼ TỪNG BƯỚC CHỨNG KIẾN NỔI OAN KHIÊNG. "TIẾNG VIỆT MẤT, NƯỚC VIỆT MẤT"
Thứ Bảy, 25 tháng 2, 2023
THẮC MẮC BIẾT HỎI AI ?
Sinh ra trong thời bình, đã từng tự hào vể màu cờ sắc áo, đã từng yêu đảng, yêu bác. Nhưng càng trưởng thành, tôi càng đặt ra cho mình nhiều câu hỏi:
1- Việt Nam có 9.000 giáo sư, 24.000 tiến sĩ nhưng không có bất kỳ bằng sáng chế nào. Vậy những giáo sư, tiến sĩ đó, họ làm gì?
2- Giáo dục Việt Nam cải cách không ngừng, vậy tại sao 63% sinh viên thất nghiệp khi ra trường?
3- Báo chí ca ngợi người Việt Nam thân thiện hiếu khách, vậy tại sao đa số du khách nước ngoài tuyên bố sẽ không quay trở lại Việt Nam lần thứ 2?
4- Đảng Cộng sản Việt Nam thừa nhận rằng chưa có nhận thức rõ, cụ thể và đầy đủ về thế nào là "Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa", vậy rốt cuộc ai nghĩ ra mô hình này?
5- Nhiệm vụ của báo chí truyền thông là nói lên sự thật hay là nói lên những điều có lợi cho đảng?
6- Nhà nước nhận lương từ tiền thuế của dân để làm việc phục vụ nhân dân hay để cai trị nhân dân?
7- Công an là lực lượng được thành lập để bảo vệ dân hay bảo vệ chế độ?
8- Khẩu hiệu của quân đội là "trung với đảng", vậy sao khi hy sinh lại ghi trên bia mộ là "tổ quốc ghi công" chứ không phải "đảng ghi công"?
9- Tại sao có "huân chương kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ" mà lại không có "huân chương kháng chiến chống Tầu"?
10- Đảng cử thì đảng bầu, tại sao đảng cử lại bắt dân bầu?
11- Chủ nghĩa xã hội là chế độ ưu việt, vậy tại sao nó sụp đổ tại Nga, nơi nó được sinh ra và tại sao chỉ còn vài quốc gia theo mô hình này?
12- Tư tưởng Mác-Lenin là tư tưởng khai sáng nhân loại, vậy tại sao tượng Lenin bị phá sập tại Nga và các nước đông Âu trong tiếng hò reo của nhân dân?
13- Hồ Chí Minh từng nói: "Không, tôi chẳng có tư tưởng gì ngoài tư tưởng chủ nghĩa Mác-Lê". Vậy giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh ở đâu ra?
Cô Giáo Trần Thị Lam
CHIẾN LƯỢC XÓA TIẾNG VIỆT.
Thứ Tư, 22 tháng 2, 2023
THỰC TẾ ĐỜI SỐNG HỌC ĐƯỜNG & CUỘC SỐNG ĐỜI THẬT CỦA XÃ HỘI.
Tháng Sáu là tháng của những ngày lễ ra trường. Hôm nay là một ngày vui của Quang, đứa con trai đầu lòng của vợ chồng tôi vừa tốt nghiệp trung học. Lần đầu tiên trong đời được ngồi tham dự buổi Lễ Tốt Nghiệp (Graduation Ceremony) của con mình, tôi cảm nhận được hết tất cả nổi hân hoan, vui sướng của hơn 300 cô cậu khi lần lượt lên sân khấu nhận bằng tốt nghiệp.
Trong gia đình tôi có hai con, một trai học xong lớp 12 và một gái chuẩn bị lên lớp 10. Dù là tốt nghiệp đại học hay trung học, ra trường với một việc làm trong tay hay không, trong cuộc đời học sinh, sinh viên, ngày ra trường có lẽ là ngày vui hơn cả. Vui chẳng những vì những gánh nặng bài vở không còn nhưng cũng vui vì mình đã thành đạt một điều gì đó và đem lại niềm hãnh diện cho gia đình và người thân yêu.
Mỗi khu học chánh thường có những chương trình đặc biệt, cho cả ba cấp tiểu học (cấp 1) trung học đệ nhất cấp (cấp 2) và đệ nhị cấp (cấp 3); Dành cho những học sinh giỏi ghi tên thi, nếu đậu sẽ được vào học.
Cả hai con tôi đều học theo chương trình đó, tại trường High School for Medical Professions at North Side.
Thi tuyển vào cấp 3 chương trình đặc biệt (Đệ nhị cấp)
High Schools: (Magnet Programs)
1- High School for Medical Professions at North Side
2- High School for Science & Engineering at Dunbar
3- High School for Finance & Communication at Polytechnic
4- International Baccalaureate at O.D. Wyatt.
Thông thường trong những dịp lễ ra trường, người ta chú ý đến bài diễn văn chính, thường là của một nhân vật đặc biệt hay nổi tiếng đã thành công trong xã hội. Nội dung bài diễn văn nầy luôn có tính cách khích lệ hay thách thức những người sắp bước vào đời với những nghề nghiệp hay công việc đang chờ đợi họ. Những bài diễn văn nầy thường rất hay, nhưng trong thực tế hoặc khi va chạm với thực tế người ta mới biết rõ là có thể áp dụng được những lý thuyết đó hay không.
Trong các tiệm sách, chúng ta thường thấy xuất hiện những quyển sách với tựa đề tương tự như: "Ðây Là Ðiều Người Ta Chưa Từng Dạy Bạn Ở Ðại Học", hay "Ðây Là Ðiều Thầy Giáo chưa bao giờ nói với Bạn Trong Môn QuảnTrị Xí Nghiệp," và "Đây là những bí quyết làm giàu nhanh nhất" hoặc sánh "Đắc nhân tâm".v.v... Những điều ghi chép trong quyển sách đó cho thấy rằng có một khoảng cách giữa lý thuyết và thực hành, giữa những gì chúng ta học ở trường và thực tế ở ngoài đời. Tất cả những điều nầy chỉ có thể học hoặc rút ra từ kinh nghiệm. Kinh nghiệm càng lâu sẽ giúp chúng ta học được càng nhiều và kinh nghiệm lắm khi chính là những thất bại, những lầm lỗi.
Tôi biết đây là lần đầu tiên trong đời của bậc làm cha mẹ như chúng tôi, nhưng kể từ đây về sau sẽ còn nhiều lần nữa. Nhưng dù là lần đầu tiên hay còn nhiều lần, cũng có một điểm tương tự giữa những gì chúng ta biết và những gì chúng ta thực hành... Chúng ta biết cầu nguyện tùy theo tín ngưỡng của mỗi người, phải thực hành đúng những trách nhiệm và bổn phận của cha mẹ đối với con cái ở từng lứa tuổi của chúng. Niềm tin nơi tôn giáo không phải là phần điểm trang cho đời sống hay là một phần của đời sống nhưng là TẤT CẢ ÐỜI SỐNG. Niềm tin có sức mạnh vạn năng, có thể quyết định mọi hướng đi, mọi việc làm của chúng ta.
Chọn cho mình một niềm tin, một lý tưởng sống là điều quan trọng nhất trên đời vì tất cả những quyết định khác đều dựa vào niềm tin. Những gì chúng ta nói hay trình bày không phải là lý thuyết suông, nhưng là những nguyên tắc chung đã biến thành sự thật trong đời sống của nhiều người, trong đó có con cái thương yêu của chúng ta.
Thêm vào đó; chúng ta thường phải đối diện với Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín và luôn áp dụng vào thực tế đời sống chắc sẽ được thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp hơn. Ðây không phải là chuyện viễn vông xa vời nhưng là những điều có thật, áp dụng trong đời sống hằng ngày.
Sống ở đất nước nầy chúng ta không thiếu gì cả, nhưng điều chúng ta thiếu và cần là niềm tin để hướng dẫn đời sống. Có nhiều niềm tin, có nhiều lý tưởng để sống, cho thấy rằng niềm tin nơi sự bình an và hạnh phúc đã làm thỏa lòng mong ước của chúng ta với những thành quả Biết và Làm của Cha Mẹ, cũng như Đón Nhận và Đem Lại những cái mà con cái yêu quí, với những thành quả mà chúng đã đạt được trong hiện tại cũng như sẽ có ở tương lai.
Niềm tin đó sẽ hướng dẫn chúng ta trong mọi quyết định lớn nhỏ, giúp ta trong việc đối xử với vợ chồng, con cái, những người thân yêu trong gia đình, với bạn bè, với những người trong sở làm, nơi trường học... Niềm tin đó không giới hạn ở một phạm trù nào cả, mà nó là MỘT NẾP SỐNG, một đường lối sống...
Sống ở đời, có những điều ta có thể quyết định, lựa chọn, nhưng cũng có những điều thật đơn giản như nằm ngồi, sự kiểm soát của chúng ta. Việc chúng ta hiện diện trên cõi đời nầy chẳng hạn là điều chính ta không thể quyết định. Con người có mặt trên trần gian nầy là điều không thể lựa chọn. Chỉ một sự kiện đó cũng đủ cho thấy có một sức mạnh lớn hơn ở trên ta, ta không thể phủ nhận. Chẳng những việc ra đời, việc ta từ giã cõi đời nầy cũng vậy. Có ai trong chúng ta biết được khi nào mình sẽ lìa đời không? Sự sống, hơi thở và tất cả những gì ta có vì vậy không đến từ ta nhưng từ Ðấng Tạo Hóa.
Sự sống, hơi thở, cuộc đời là những điều chúng ta không kiểm soát được, nhưng Thượng Đế ban cho chúng ta lý trí để suy xét, ý chí để quyết định và lương tâm để biết phân biệt thiện, ác. Chúng ta có thể sử dụng trí óc để phân biệt, lựa chọn và quyết định hướng đi của bản thân và cho con cái.
Lý thuyết và Tư tưởng sẽ mãi tồn tại để góp phần thăng hoa cuộc sống, nhưng lý thuyết cũng như tư tưởng sẽ không ích lợi gì nếu chúng ta không thực hành, không áp dụng cho mình, hướng dẫn cho con cái, vì nó ban cho chúng ta những điều mà ta không thể quyết định hay kiểm soát; đó là sự sống, hơi thở, cuộc đời của chúng ta trên trần gian nầy. Nhưng Thượng Đế cũng ban cho chúng ta những điều chúng ta có thể xử dụng và phải xử dụng đúng. Ðó là suy nghĩ, quyết định, chọn cho mình một hướng đi, một con đường. Mỗi chúng ta có quyền tự do để lựa chọn con đường và hướng đi nhưng một khi đã lựa chọn, ta không thể thay đổi kết quả hay hậu quả của điều mình quyết định.
Những gì đến với chúng ta hôm nay đã cho thấy rằng có một áp dụng thực tế giữa những gì chúng ta tin và đời sống hằng ngày. Chúng ta đã kinh nghiệm điều nầy cho chính mình và ước mong mọi người cũng có một kinh nghiệm tương tự để tận hưởng đời sống mà Ơn trên đã ban cho chúng ta.
Chúng ta đang sống nhưng sống như thế nào? Sống một đời sung sướng, thỏa mãn hay đang kéo lê cuộc sống? Niềm tin nào và ai đang hướng dẫn cuộc đời của Chúng ta?
TẶNG EM ÁO DÀI
TÌNH NGHĨA ĐÔI TA
Biết nhau lúc tuổi bốn mươi
Cưới em làm vợ là người anh mong
Cuộc sống dù có long đong
Sắc son sau trước một lòng thủy chung
Khó nghèo ta phải chung lưng
Đồng tâm vượt cảnh khốn cùng gian nan
Sớm khuya tần tảo chẳng than
Một sương hai nắng nhọc nhằn ngại chi
Ngày nào tóc vẫn xanh rì
Mà nay tóc bạc da in đồi mồi
Trọn đời tình đẹp lứa đôi
Trăm năm thắm mãi duyên đôi chúng Mình.!
CHIẾC ÁO NGÀY XƯA
Chiếc áo năm xưa, đã cũ rồi,
Em đâu còn áo, mặc đi chơi.
Về thăm Mẹ nhớ, anh ra chợ.
Chọn lựa anh mua vải áo dài.
Pha màu, chấm phá, tự nhiên thôi.
Anh thấy hàng nay, cũng đẹp rồi.
Thước tấc, bao nhiêu! Em đã bảo:
Thế nào, kích cỡ, ngắn hay dài.?
Nghe vậy, ô hay.! Biết tính sao
Hàng nhiều anh hỏi, phải tìm ai.?
Đã lâu, rộng hẹp anh nhìn ngắm,
Ai tựa, bờ vai, biết ngắn dài
Như thế, nói rồi, khó tính ghê.!
Cứ theo ni áo, nhớ mang về
Eo co gia giảm không sao cả
Nhớ bảo, thợ may, lấy rập theo.
ÁO DÀI EM MẶC
Anh yêu, mến chiếc áo dài,
Thướt tha duyên dáng đẹp hoài thời gian.
Ngày xuân nắng trải tơ vàng,
Khoe tà áo mới ngập tràn tuổi thơ
Lớn theo lứa tuổi học trò
Nắng che tà trước gió vờn vạt sau.
Những ngày đẹp ấy bên nhau,
Áo em in dấu vạt sầu còn vương.
Đẹp sao tà áo quê hương,
Áo dài màu trắng nhớ thương năm nào!
Bây chừ trắng đổi thành màu
Vẫn duyên vẫn dáng như ngày yêu ai.!
Thướt tha trong chiếc áo dài
Em như nhành liễu mảnh mai soi mình
Dáng thanh xanh biếc in hình
Lặng theo bóng nước để tìm gặp em
Dịu dàng, đẹp tựa nàng tiên
Kiêu sa, quyến rũ, với niềm ước ao
Nghe lòng dậy sóng, xôn xao
Ruổi Rong, mê mải, lạc vào mộng mơ
Nghiêng nghiêng chiếc nón bài thơ
Phất phơ tà áo, thẫn thờ yêu thương
Áo dài, ru mộng đêm trường
Khiến lòng ngơ ngẩn, vấn vương, mơ màng
Cầu trời nối nhịp song toàn
Để cùng sánh bước bên nàng, đẹp đôi.!
Dẫu đi khắp bốn, phương trời
Áo dài em mặc rối bời tim anh...
KỸ NIỆM 35 năm ngày cưới
(1984 - 2019)
